Quảng cáo
+ Trả Lời Ðề Tài
kết quả từ 1 tới 8 trên 8
  1. #1
    Tham gia
    Feb 2010
    Tuổi
    22
    Bài viết
    68
    Like
    0
    Được 3 Like trong 2 bài viết

    Mặc định Tài liệu khá hay cho cac bạn ôn thi đh khối c nè!

    NHÀ TÀI TRỢ

  2. Game hay
  3. Game Đào Vàng
  4. Game Kim Cương
  5. Học Tiếng Anh
  6. Học Tiếng Anh Online

  7. chào các bạn!mình là dân học về kinh tế không theo các môn xã hội nhưng mình lại rất thích văn học, có mốt số bài văn minh thấy được nên poss len cho cac bạn đang on thi khối c chuẩn bị cho kì thi ĐH 2010 .Chúc các bạn thành công để bước vào cổng trường ĐH mình mơ ước!Để rồi..................(mời bạn qua diễn đàn huyên ý yên đọc bài viêt "cuộc sống sinh viên khi xa nhà của tôi" thì sẽ hiểu..........hjhj,vì mình là dân ý yên nên poss bài ở đó ý mà)
    -_- '' MỐI QUAN HỆ GIỮA NGHỆ THUẬT VÀ ĐỜI THƯỜNG TRONG TP CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA"
    Mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời thường trong tác phẩm 'Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu
    2010-03-11 @ 15:26 in CẢM NHẬN VĂN CHƯƠNG


    Từ những năm 60 của thế kỷ trước, công chúng đã biết đến Nguyễn Minh Châu qua những tiểu thuyết như: Cửa sông, Dấu chân người lính cùng khá nhiều truyện ngắn được đánh giá là những thành công của văn xuôi chống Mĩ. Hồi ấy, chắc không ít người từng nghĩ rằng: ông như con tằm đã nhả hết tơ trong thời chiến nên chuyển sang thời bình tất yếu sẽ "giảm phong độ".
    Nhưng những tác phẩm được viết từ sau 1975 và nhất là từ thời kỳ đổi mới của Nguyễn Minh Châu đã chứng tỏ ở ông vẫn còn một vốn viết rất sung mãn. Ông đã đem đến cho văn đàn sau chiến tranh những khám mới về con người, những suy tư về thế sự và đó hình như mới đúng là Nguyễn Minh Châu. Không phải vô cớ mà Nguyên Ngọc coi ông là "người mở đường tinh anh và tài năng" thời kỳ đổi mới. Chỉ cần viện dẫn truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa cũng đủ thấy Nguyên Ngọc không quá lời.
    Khi được đưa vào chương trình ngữ văn 12 mới, thay thế cho Mảnh trăng cuối rừng, nhiều giáo viên văn tỏ ra nuối tiếc thiên diễm tình lãng mạn giữa bom đạn Trường Sơn. Cùng với tâm lí ấy là sự cảm thấy khó khăn khi thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của Chiếc thuyền ngoài xa. Tác phẩm này quả thực không dễ dàng tiếp nhận vì nó là tiếng nói đa thanh, đa nghĩa; nó đặt ra rất những vấn đề bức xúc, phức tạp của thế sự nhưng lại giải quyết trong vỏn vẹn khuôn khổ một truyện ngắn. Để hiểu tác phẩm này, có thể bắt đầu từ tình huống truyện. Đó là tình huống của những nghịch lí.
    Nghịch lí thứ nhất là sự kiện nhân vật Phùng - nghệ sĩ nhiếp ảnh được trưởng phòng giao nhiệm vụ chụp một bức ảnh về cảnh biển buổi sáng có sương mù để bổ sung xuất bản bộ lịch. Phùng đến vùng biển từng là bãi chiến trường cũ thời chống Mĩ. Sau một tuần lễ kiên nhẫn chờ đợi, người nghệ sĩ đã gặp "một cảnh "đắt" trời cho". Đó là tuyệt tác của tạo hóa đẹp như "một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ". Bằng con mắt nhạy cảm nhà nghề, Phùng phát hiện ra một sự hài hòa, thơ mộng đến tuyệt diệu của cảnh biển buổi sáng. Trên cái phông nền mờ nhòe của sương sớm có pha chút màu hồng dịu của bình minh, có những bóng người trên thuyền im phắc được nhìn qua những mắt lưới. Phát hiện ra vẻ đẹp "thực đơn giản và toàn bích" đó, tâm tư của Phùng không chỉ tràn đầy những rung cảm thẩm mĩ mà còn như được thanh lọc để trở nên trong sáng hơn. Trong lúc tâm hồn thăng hoa bởi cái đẹp, anh nghiệm thấy đúng như ai đó đã phát hiện ra "bản thân cái đẹp chính là đạo đức". Vì đứng trước thế giới ấy - thế giới mà Phùng gọi là chân lí của sự toàn thiện, toàn mĩ, anh đã cảm nhận rất rõ "cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn". Như để làm dịu đi cơn khát, người nghệ sĩ đã dùng chiếc máy ảnh bấm liên thanh hết một phần tư cuốn phim. Nhưng cũng trớ trêu thay, chính trong lúc ấy, Phùng lại bàng hoàng chứng kiến cảnh tượng không có một chút "thơ" nào. Từ trong cảnh biển đẹp như mơ ấy lại xuất hiện những con người xấu xí. Đó là người đàn bà cao lớn với những đường nét thô kệch, rỗ mặt, dáng vẻ mệt mỏi, khuôn mặt tái ngắt. Đó là hình ảnh người đàn ông với tấm lưng rộng, mái tóc tổ quạ, chân đi chữ bát, con mắt đầy vẻ độc dữ. Nếu trước đó, cảnh chiếc thuyền ngoài xa yên tĩnh, thơ mộng thì cảnh bạo hành trong gia đình người dân chài lại vô cùng tàn nhẫn, dã man. Hóa ra người đàn bà lặng lẽ theo chồng lên bờ là chỉ để hứng chịu những trận đòn vô lí. Chứng kiến cảnh ấy Phùng đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Đầu tiên là sự bất ngờ có pha chút thất vọng vì ngoại hình của cặp vợ chồng dân chài khiến người nghệ sĩ đang thăng hoa trong cảm xúc bỗng mất hứng. Bất ngờ tiếp theo là người đàn ông không hiểu vì lí do gì, chẳng nói, chẳng rằng, dùng chiếc thắt lưng "quật tới tấp vào người đàn bà". Lão ta đánh vợ như một sự giải tỏa, để trút bỏ "cơn giận như lửa cháy". Người đàn bà bị chồng đánh đập tàn nhẫn nhưng không hề kêu khóc, van xin, cũng không hề phản kháng hay bỏ chạy. Cái thân hình vập vạp ấy như đã quen với việc bị đánh, trở thành nơi để hứng chịu những trận đòn kỳ quặc của chồng. Nhưng có một chi tiết chen ngang khiến chị ta không cầm nổi nước mắt - sự xuất hiện của thằng Phác - đứa con trai mà chị ta hết mực yêu thương. Việc thằng Phác chứng kiến mẹ bị hành hạ, xông vào bênh vực mẹ đã khiến người đàn bà vừa trước đó tỏ ra vô cảm, trơ lì với những trận đòn bỗng "chắp tay vái lấy vái để" thằng bé rồi lại "ôm trầm lấy nó" mà khóc tức tưởi. Toàn bộ cảnh bạo hành gia đình diễn ra trong một thời khắc ngắn ngủi "như trong một câu chuyện cổ đầy quái đản". Nó tác động không nhỏ đến tâm lí hoài nghi của người nghệ sĩ.
    Nghịch lí thứ hai là chuyện Phùng lại chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ và cảnh cô chị gái cố đoạt lấy con dao găm trong tay thằng Phác khi nó định dùng để bảo vệ mẹ. Bản chất của người lính năm xưa trỗi dậy, Phùng không nhẫn nhịn được nên đã can thiệp và bị thương. Anh được đưa đến trạm y tế của tòa án huyện. Ở đây, Phùng có người bạn đồng ngũ là Đẩu - vị chánh án tòa án được coi là "bao công của phố huyện". Với sự vô tư, trách nhiệm của một nhà chấp pháp, Đẩu đã mời người đàn bà đến vì mục đích giải thoát cho chị ta. Nhưng cả Đẩu và Phùng đều không ngờ rằng, người đàn bà từ chối một cách quyết liệt thiện chí giúp đỡ của Phùng và Đẩu. Theo lời chị ta thì "quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được" nhưng "đừng bắt con bỏ nó"!
    Điều gì làm nên cách ứng xử ("lấy cam chịu làm đầu") của người đàn bà qua những nghịch lí ấy?
    Người đàn bà cam chịu anh chồng vũ phu thô bạo bởi chị ta hiểu chồng và ít nhiều có sự biết ơn. Biết ơn bởi lúc nhỏ chị ta đã là một "đứa con gái xấu, lại rỗ mặt", "trong phố không ai lấy" và vì thế việc gã đàn ông làng chài trở thành chồng đối với chị cũng là một sự hàm ơn. Trong những lời kể về cuộc đời dằng dặc những nhọc nhằn của mình, người đàn bà không hề tỏ ra oán chồng. Chị ta hiểu chồng mình bản chất không phải là kẻ độc ác. Trước kia anh ta "hiền lành lắm" và không bao giờ đánh đập vợ. Chỉ khi đối mặt với sự nghèo túng, phải gánh cả một gia đình đông con lão ta mới tha hóa. Nói về chồng mình, người đàn bà tỏ ra rất vị tha. Chị ta cho rằng, việc người đàn ông đánh vợ không phải lỗi ở hắn mà là ở mình. Nghĩa là do "đẻ nhiều quá" mà cuộc sống chật vật, căng thẳng khiến "cứ lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh".
    Lí do thứ hai khiến người đàn bà cam chịu là tình thương với con cái. Vì thương con mà chị ta tìm mọi cách nhằm vẫn chấp nhận để cho chồng giải tỏa bằng đánh đập mà vẫn không làm tổn thương đến con. Bản tính người mẹ đã tạo cho người đàn bà một sự chịu đựng khủng khiếp. Đọc chiếc thuyền ngoài xa, lắm lúc tôi cứ băn khoăn một lẽ, chẳng biết cái đức hi sinh, nhẫn nhịn truyền thống của người phụ nữ Việt Nam - Cái phẩm chất mà từ ca dao, đến ông Tú rồi biết bao áng thơ văn hiện đại hết lời ca ngợi ấy là ưu hay nhược điểm? Là đáng tự hào hay không nên quá tự hào? Vì không muốn để con biết là mình bị đánh nên chị ta chỉ dám cầu xin một "ân huệ" - xin chồng đưa mình lên bờ để đánh. Trong những đứa con đông đúc của mình, chị ta thương nhất thằng Phác nên đã gửi nó lên theo ông ngoại trên đất liền. Gửi thằng bé lên đó không chỉ vì tránh cho tâm hồn non nớt của nó bị tổn thương mà quan trọng hơn là để nó khỏi làm điều gì dại dột với bố. Thế nên, khi để thằng Phác chứng kiến mình bị đánh đập, khi thằng Phác bất chấp tình cha con để bênh vực mẹ, người đàn bà đã không thể chịu đựng nổi nỗi đau. Tình thương con đã biến chị từ chỗ tỏ ra không có cảm giác đau đớn thân xác đã trở nên yếu đuối đến thảm hại.
    Cũng vì thương con mà chị ta không muốn cảnh gia đình tan vỡ. Phản ứng của người đàn bà khiến tôi nhớ lại như in một ấn tượng từ tuổi thơ. Tôi đã từng chứng kiến những con gà mái chống lại diều quạ để bào vệ đàn con. Bình thường chúng rất lành và nhút nhát nhưng hễ phải bảo vệ đàn con là chúng rất dữ dằn. Tôi đã từng thấy cảnh con quạ chỉ dám bay vòng bên trên chứ không dám sà xuống đám gà con đang quây quanh chân mẹ vì con gà mái mắt cứ long lên chỉ chực lăn xả vào con quạ nếu nó đáp xuống. Đó chính là sức mạnh ở bản năng người mẹ mà bình thường nó không thể có được để chống lại loài chim ăn thịt? Phản ứng của người đàn bà ở tòa án huyện phải chăng cũng được miêu tả theo quy luật ấy? Khi mới đặt chân đến tòa án, mặc dù không phải là lần đầu nhưng chị vẫn không khỏi sợ sệt, lúng túng khác hẳn lúc bị chồng đánh giữa bãi xe tăng hỏng. Để tỏ ra là chỗ dựa tin cẩn cho người người mẹ đáng thương, chánh án Đẩu đã bày tỏ sự sẵn lòng giúp đỡ để giải thoát cho chị ta, trừng trị lão đàn ông vũ phu. Trong suy nghĩ đơn giản của Đẩu và Phùng, lẽ ra chị ta phải cảm thấy nhẹ người vì đã cởi bỏ được một gánh nặng vẫn phải đeo đẳng bấy lâu. Nhưng người đàn bà lại trở nên sợ hãi. Chị ta "chắp tay lại vái lia lịa", "con lạy quý tòa", chị ta chấp nhận "Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được nhưng đừng bắt con bỏ nó...". Nói thế nghĩa là chị ta chấp nhận những hình phạt nặng nề của pháp luật, thà là kẻ có tội trước pháp luật, bị bắt tội, bị đi tù còn hơn là phải li dị. Khi Phùng xuất hiện, chị ta nghĩ rằng, tòa án bố trí sẵn nhân chứng để buộc mình phải li dị thì người đàn bà - như con gà mái bảo vệ đàn con - bấy giờ mới trút bỏ cái vẻ bề ngoài tỏ ra u mê, nhút nhát. Sự biến đổi này bắt đầu bằng thái độ gai góc hẳn lên. Từ lối xưng hô với Đẩu "con - quý tòa", chị ta bỗng chuyển sang lối xưng hô "chị - các chú". "Vị bao công phố huyện" cùng người bạn đồng ngũ của mình lúc đầu có ý định giảng giải cho chị ta lí do chính đáng để li dị nhưng rồi chính chị ta lại dạy cho Đẩu và Phùng một bài học về cách nhìn cuộc sống. Đẩu và Phùng không hiểu nổi những bí ẩn về người đàn bà này nhưng chị ta lại tỏ ra hiểu và thông cảm khi cho rằng "lòng các chú tốt" nhưng "các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc". Trái với vẻ nông nổi thiếu thực tế của Phùng và Đẩu, chị hiểu được vai trò của người đàn ông trên thuyền để chống chọi với sóng gió, "dù hắn man rợ, tàn bạo".
    Đúng là cái đức hi sinh từ ngàn đời của người phụ nữ Việt đã di truyền cho người đàn bà này sức chịu đựng khủng khiếp và cùng với sự chịu đựng ấy là một nỗi khổ ải kỳ cục. Người chồng cũng khổ nhưng còn được giải tỏa bằng việc ... đánh vợ. Thằng Phác cũng khổ nhưng còn có chỗ che chở là ông ngoại. Người đàn bà dân chài này khổ còn vì không biết giải tỏa bằng cách nào, không thể và không muốn chia sẻ cùng ai. Khổ đến mức, chỉ được chồng chiếu cố cho một ân huệ là được lên bờ chịu đòn mà cũng như một cái ơn. Tất nhiên, không phải chị ta không hạnh phúc nhưng đó là hạnh phúc tội nghiệp - hạnh phúc khi đôi lúc nhìn lũ con được ăn no. Như vậy, người đàn bà vùng biển này cũng như cô Nguyệt trong Mảnh trăng cuối rừng, đều là kiểu "hạt ngọc ẩn" mà Nguyễn Minh Châu cả đời tìm kiếm. Có điều, cô Nguyệt trong Mảnh Trăng cuối rừng là mẫu hình lí tưởng chỉ để mơ ước, để ngắm nhìn chứ không có thực còn người đàn bà vùng biển trong tác phẩm này thì hiện lên từ những lấm lem bụi đời. Chị ta là "hạt ngọc ẩn" bởi lẽ đằng sau cái vẻ ngỡ như thô vụng, thậm chí u tối, người đàn bà này không phải không có những suy nghĩ sắc sảo, sâu xa. Và "hạt ngọc ẩn" ấy chỉ thực sự hiển lộ khi buộc phải bộc lộ mình.
    Hé mở dần bản chất của người đàn bà vùng biến, thiên truyện đã đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội bức thiết. Ý nghĩa ấy trước hết được gửi vào Đầu. Anh là chánh án tòa án thông hiểu luật pháp lại sẵn có lòng hào hiệp cứu người nhưng lại thiếu hiểu biết thực tế. Trong suy nghĩ đơn giản của Đẩu chỉ cần giúp người đàn bà li hôn, trừng phạt lão đàn ông vũ phu kia là sẽ đem lại lẽ công bằng. Nhưng nếu giả sử buộc phải li hôn, người đàn bà sẽ sống như thế nào với sóng gió biển cả và nhất là phải nhìn cảnh lũ con bị chia sẻ "có bố thì không có mẹ, có mẹ thì không có bố". Bài học đặt ra từ mâu thuẫn này là: muốn cải tạo cuộc sống phải căn cứ vào thực tế cuộc sống làm cho cuộc sống "dễ thở" hơn chứ không phải chỉ đem sách vở mà áp đặt vào cuộc sống. Nếu chỉ biết đem sách vở mà áp vào cuộc sống thì chánh án Đẩu có khác nào một thứ Rôbốt, có khi vô tình trở thành kẻ hành động phản nhân văn mà chính mình không ý thức được. Người đàn ông đánh vợ, về lí là có tội nhưng nếu xét từ hoàn cảnh sống thì chính anh ta cũng là nạn nhân chứ không chỉ là phạm nhân. Không phải ngẫu nhiên mà tác giả sáng tạo chi tiết Phùng chứng kiến gã đàn ông đánh vợ bằng chiếc thắt lưng của lính Ngụy, ở nơi có chiếc xe tăng hỏng của Mĩ Ngụy. Phùng và Đẩu đều là những người lính trở về thời bình với vinh quang chiến thắng. Ở tác phẩm này, có lẽ Nguyễn Minh Châu muốn kí thác một điều, không phải hễ cứ đánh đuổi được ngoại xâm, thống nhất đất nước là có thể đem lại hạnh phúc cho con người. Tàn dư của xã hội cũ còn đó trong nạn bạo hành gia đình khiến những người lính Trường Sơn năm xưa vẫn chưa yên lòng với vinh quang của quá khứ. Câu chuyện để lại một kết thúc bỏ lửng. Chẳng biết sau này, cuộc sống của gia đình làng chài ấy sẽ tiếp diễn ra sao, liệu rằng cái bãi xe tăng hỏng của Mĩ Ngụy có còn là nơi diễn ra nạn bạo hành? Liệu cái thắt lưng da của lính Nguy có còn tác quái với gia đình làng chài ấy không? Và thằng Phác - cái thằng bé giống bố như lột ấy rồi đây sẽ trở thành con người như thế nào? Nếu cuộc sống này còn tiếp diễn thì ai dám chắc nó sẽ không trở thành kẻ tha hóa điên rồ như cha mình. Kết thúc bỏ lửng ấy không chỉ tránh được công thức mà quan trọng hơn, nó nhấn sâu hơn bức thông điệp khắc khoải đau đáu về số phận con người: cuộc chiến đấu với đói nghèo, lạc hậu còn diễn ra dai dẳng lâu dài. Nó cũng khốc liệt chẳng kém gì cuộc chiến chống ngoại xâm vừa qua đi.
    Thiên truyện còn đặt ra những vấn đề có ý nghĩa nghệ thuật với văn nghệ sĩ sau chiến tranh. Ý nghĩa ấy chủ yếu được gửi vào nhân vật Phùng. Sự phát hiện những nghịch lí cuộc sống giúp Phùng nhận thức rõ hơn bản chất mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời. Chiếc thuyền trong sương sớm đẹp vì nó là viễn ảnh, được nhìn từ xa. Nó có thể thanh lọc tâm hồn người nghệ sĩ nhưng vẫn vô nghĩa với những con người lam lũ ở phía sau vẻ đẹp ấy, những con người cơ cực bởi gánh nặng mưu sinh. Bức ảnh của Phùng được trưởng phòng khen ngợi, có mặt trong nhiều gia đình "sành nghệ thuật" nhưng chính tác giả của nó lại không bằng lòng vì đó là hình ảnh chỉ để ngắm nhìn, đó còn là sản phẩm của cái nhìn dễ dãi về cuộc sống, chưa vươn tới được bản chất cuộc đời, chưa cất lên được tiếng nói của những con người lam lũ nhọc nhằn. Sự phiến diện ấy bắt nguồn từ chính Phùng. Anh thiết tha với cái đẹp, với nghệ thuật và cũng sẵn lòng hào hiệp của người lính Trường Sơn nhưng cũng như Đẩu, Phùng còn thiếu hiểu biết thực tế thành ra vẫn hời hợt trong cách nhìn đời, lúng túng không giải thích được những nghịch lí phức tạp của cuộc sống. Sự phiến diện ấy còn bởi Phùng chỉ sáng tạo theo đơn đặt hàng. Nghĩa là theo sự giao việc của trưởng phòng - mà như thế không thể gọi là sáng tạo. Bản thân từ sáng tạo đã bao hàm một cái gì của riêng mình, từ chính mình, là chống lại công thức... Trong hoàn cảnh thời đại, khi cái nhìn giản đơn về con người và cuộc sống còn ngự trị trong sáng tác văn học thì tác phẩm này đặt ra một vấn đề liên quan đến sự sống còn của nghệ thuật Việt Nam sau chiến tranh. Đó là cách nhìn con người và cuộc đời. Người nghệ sĩ - theo nhà văn - phải nhìn cuộc đời bằng đôi mắt toàn diện, phải thấy được những phức tạp của cuộc sống chứ không thể nhìn cuộc sống một cách dễ dãi, xuôi chiều. Đó không chỉ là tâm nguyện của riêng Nguyễn Minh Châu mà là của cả một lớp văn nghệ sĩ thời kỳ Đổi mới.
    Còn nhớ hồi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Nam Cao viết truyện ngắn Đôi mắt phê phán lối sống ích kỉ, suy nghĩ lạc lõng của văn sĩ Hoàng, ca ngợi Độ, tức là ca ngợi mẫu hình văn nghệ sĩ từ bỏ cái cao siêu, cá nhân trong nghệ thuật, tự nguyện dùng nghệ thuật để tuyên truyền, vận động Cách mạng góp phần giải phóng dân tộc. Khi dùng nghệ thuật để tuyên truyền thì tất yếu nghệ thuật phải tìm đến lối thể hiện đơn giản (vì lực lượng cách mạng chính là quần chúng nhân dân trong những năm 40 -50 của thế kỷ trước). Tư tưởng ấy ngỡ mâu thuẫn mà lại thống nhất với Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu. Thống nhất ở chỗ Nam Cao đặt ra vấn đề "đôi mắt" của người nghệ sĩ trong thời chiến còn Nguyễn Minh Châu thì trăn trở về cách nhìn con người và cuộc đời trong thời bình. Thời chiến, mọi vấn đề thuộc về cá nhân phải tạm gạt bỏ, mọi nỗi đau phải nén lại để lấy tinh thần đánh giặc nhưng thời bình văn chương không thể không quan tâm đến số phận cá nhân, không thể không thâm nhập đến tận cùng những góc tối, góc khuất của con người và cuộc đời. Bởi có như vậy mới khơi dậy được ở con người những tình cảm nhân văn và mới làm nên sự sống của nghệ thuật.

    Tác giả Nguyễn Thư
    (Trường PTTH Chuyên Bắc Giang)

    ------------------------------------------------------------------------------------------------
    "GIÁ TRỊ HIỆN THỰC VÀ NHÂN ĐẠO CỦA TÁC PHẨM CHÍ PHÈO"
    Đề: Giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm Chí Phèo

    Trong dòng văn học hiện thực phê phán 1930-1945. Chí Phèo có lẽ là tác phẩm thành công hơn cả trong việc đem lại cho người đọc những ấn tượng mạnh mẽ, không thể quên về bức tranh đen tối ngột ngạt, bế tắc của nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, đồng thời thức tỉnh cái phần lương tri tốt đẹp nhất của con người, khơi dậy lòng căm ghét cái xã hội vạn ác đã chà đạp lên nhân phẩm con người, thương xót, cảm thông với những thân phận cùng đinh bị giày vò, tha hóa trong chế độ cũ.

    Căm ghét xã hội thực dân phong kiến thối nát, phê phán mãnh liệt các thế lực thống trị xã hội, trên cơ sở cảm thông, yêu thương trân trọng con người, nhất là những con người bị vùi dập, chà đạp, đó là cảm hứng chung của các nhà văn hiện thực phê phán giai đoạn 30-45. Tuy nhiên, trong tác phẩm Chí Phèo, Nam Cao đã khám phá hiện thực ấy bằng một cái nhìn riêng biệt. Nam Cao không trực tiếp miêu tả quá trình bần cùng, đói cơm, rách áo dù đó cũng là một hiện thực phổ biến. Nhà văn trăn trở, suy ngẫm nhiều hơn đến một hiện thực con người: con người không được là chính mình, thậm chí, không còn được là con người mà trở thành một con “quỉ dữ”, bởi âm mưu thâm độc và sự chà đạp của một guồng máy thống trị tàn bạo. Với một cái nhìn sắc bén, đầy tính nhân văn, bằng khả năng phân tích lý giải hiện thực hết sức tinh tế, bằng vốn sống dồi dào và trái tim nhân ái, nhà văn đã xây dựng nên một tác phẩm với những giá trị hiện thực và nhân đạo đặc sắc không thể tìm thấy ở các nhà văn đương thời.

    Thật ra trong bất cứ tác phẩm nghệ thuật chân chính nào, giá trị hiện thực bao giờ cũng đi liền với giá trị nhân đạo. Tác phẩm càng xuất sắc, những giá trị ấy càng thẩm thấu, thống nhất với nhau, khó tách rời. Chí Phèo của Nam Cao cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Bởi vì nội dung phản ánh (và tiếp nhận) - yêu thương, trân trọng hay căm ghét, khinh bỉ? Tách riêng ra hai giá trị là làm phá vỡ sự gắn liền hữu cơ của một chỉnh thể nghệ thuật vốn dĩ thống nhất.

    Đọc xong tác phẩm Chí Phèo ta thấy gì? Mở đầu tác phẩm là cảnh Chí Phèo ngật ngưởng trên đường đi vừa chửi, từ trời đến người, tiếng chửi hằn học, cay độc và chua xót. Kết thúc là cảnh Chí Phèo giãy đành đạch giữa bao nhiêu là máu tươi. Bao trùm lên tất cả, tác phẩm ám ảnh ta một không khí ngột ngạt, bế tắc đến khủng khiếp, đầy những mâu thuẫn không thể dung hòa của một làng quê Việt Nam trước Cách mạng, với bao cảnh cướp bóc, dọa nạt, giết chóc, ăn vạ, gây gổ… trong đó Chí Phèo hiện lên như một biếm họa tiêu biểu. Hãy nghe nhà văn miêu tả: “Bây giờ thì hắn trở thành người không tuổi rồi. Ba mươi tám hay ba mươi chín? Bốn mươi hay là ngoài bốn mươi. Cái mặt hắn không trẻ cũng không già; nó không còn phải là mặt người: nó là mặt một con vật lạ, nhìn mặt những con vật có bao giờ biết tuổi?. Sau khi ở tù về, hắn đã trở thành một con quỉ dữ của làng Vũ Đại mà không tự biết. Cuộc đời hắn không có ngày tháng bởi những cơn say triền miên. Hắn ăn trong lúc say, thức dậy vẫn còn say, đập đầu rạch mặt, chửi bới, dọa nạt trong lúc say, uống rượu trong lúc say, để rồi say nữa, say vô tận. Chưa bao giờ hắn tỉnh và có lẽ chưa bao giờ hắn tỉnh để nhớ hắn có ở đời. Có lẽ hắn cũng biết rằng hắn là quỉ dữ của làng Vũ Đại để tác quái cho bao nhiêu dân làng. Hắn đâu biết hắn đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đập đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu nước mắt của bao nhiêu người lương thiện… Tất cả dân làng đều sợ hắn và tránh mặt hắn mỗi lần hắn qua…”

    Đoạn văn chất chứa bao nhiêu nỗi thống khổ của một thân phận đã không còn được cuộc sống của một con người. Những năng lực vốn có của một con người - năng lực cảm xúc, nhận thức - hầu như bị phá hủy, chỉ còn lại năng lực đâm chém, phá phách. Chí Phèo bị phá hủy nhân tính lẫn nhân hình như thế bởi đâu? Nhà văn không tập trung miêu tả dông dài quá trình tha hóa ấy. Ông thiên về lí giải phân tích cái cội nguồn sâu xa dẫn đến kết cục bi thảm của nó, chỉ bằng một số phác thảo đơn sơ về Bá Kiến, về nhà tù, về bà cô Thị Nở, về dư luận xã hội nói chung… Trong hàng loạt mối liên kết ấy, người đọc dễ dàng nhận ra: sở dĩ Chí Phèo (và không chỉ Chí Phèo mà cả những Năm Thọ, những Binh Chức - cả một tầng lớp được nhà văn cá thể hóa qua nhân vật Chí Phèo) từ một thanh niên lành như cục đất hoá thành con quỉ dữ là bởi vì Chí, ngay từ thuở lọt lòng đã thiếu hẳn tình ấp ủ yêu thương, và đặc biệt khi lớn lên, chỉ được đối xử bằng rẻ khinh, thô bạo và tàn nhẫn. Thủ phạm trực tiếp là Bá Kiến được nhà văn miêu tả là một con cáo già “khôn róc đời”, “ném đá giấu tay”, “già đời trong nghề đục khoét”, biết thế nào là “mềm nắn rắn buông”, “Hay ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng lại dắt nó lên để nó đền ơn. Hay đập bàn đập ghế đòi cho được 5 đồng, nhưng được rồi lại vứt trả lại 5 hào vì thương anh túng quá!”. Chính hắn đã lập mưu đẩy Chí Phèo vào chỗ tù tội oan uổng và sau đó sử dụng Chí Phèo như một tay sai đắc lực phục vụ cho lợi ích và mưu đồ đen tối của mình. Không có Bá Kiến thì không có Chí Phèo, nhưng Chí Phèo không chỉ là sản phẩm của sự thống trị mà thậm chí là phương tiện tối ưu để thống trị: “không có những thằng đầu bò thì lấy ai mà trị mấy thằng đầu bò”. Chính Bá Kiến đã rút ra cái kết luận mà theo hắn rất chí lí ấy. Là một tội nhân, nham hiểm, nhẫn tâm, nhưng Bá Kiến lại hiện ra bề ngoài như một kẻ ôn hòa, xởi lởi, biết điều, khiến người đời phải nhìn bằng cặp mắt “kính cẩn”… Vì thế mà hắn đã lường gạt được bao nhiêu dân chất phác lương thiện. Chí Phèo trở thành tay chân đắc lực của hắn; thật sự biến thành công cụ, phương tiện thống trị cho kẻ thù của mình mà không tự biết. Bá Kiến hiện ra trong tác phẩm Chí Phèo như một nhân vật điển hình, sống động và cá biệt, tiêu biểu cho một bộ phận của giai cấp thống trị, được miêu tả, khám phá dưới một ngòi bút bậc thầy. Cùng với hắn là Lý Cường, là chánh Tổng, là đội Tảo… Chính bọn chúng đem lại không khí ngột ngạt khó thở cho nông thôn Việt Nam thành cái thế “Quần ngư tranh thực” (bọn đàn anh chỉ là một đàn cá tranh mồi, chỉ trực rình rập tiêu diệt nhau). Chính chúng là thủ phạm gây ra bi kịch của những Chí Phèo… Số phận của Năm Thọ, Binh Chức, tuy chỉ được nhắc qua tác phẩm, nhưng cũng góp phần chỉ ra tính hệ thống và phổ biến của phương cách tha hóa người dân trong sự thống trị của chúng. Đằng sau những Bá Kiến, Lý Cường, Chánh Tổng… như một sự hỗ trợ gián tiếp nhưng tích cực là hệ thống nhà tù dã man, bẩn thỉu - cả một điều kiện môi trường bất hảo. Quá trình Chí Phèo ở tù không được miêu tả trực tiếp, chỉ biết rằng khi vào tù Chí Phèo là người hiền lành lương thiện. Ra khỏi tù, hắn trở về với cái vẻ hung đồ, cái thói du côn ương ngạnh học được từ đấy. Nhà văn chỉ nói có thế. Nhưng như thế với bạn đọc thông minh cũng đã quá đủ! Bằng bút pháp độc đáo, tài hoa linh hoạt, giàu biến hóa, Nam Cao khi tả, khi kể theo một kết cấu tâm lý và mạch dẫn dắt của câu chuyện với một cách thức bề ngoài tưởng chừng như khách quan, lạnh lùng và tàn nhẫn, nhưng chất chứa bên trong biết bao nỗi niềm quằn quại, đau đớn trước thân phận đau đớn của kiếp người. Lồng vào bức tranh hiện thực trên kia là thái độ yêu ghét, là cách phân tích và đánh giá những vấn đề về hiện thực mà nhà văn đặt ra. Ngay việc lựa chọn một nhân vật cùng đinh thống khổ nhất của xã hội làm đối tượng miêu tả và gởi gắm biết bao thông cảm, suy tư thương xót… tự nó đã mang nội dung nhân đạo. Nhưng giá trị nhân đạo của tác phẩm thể hiện tập trung nhất ở cách nhìn nhận của nhà văn đối với nhân vật bị tha hóa đến tận cùng. Nam Cao vẫn phát hiện trong chiều sâu của nhân vật bản tính tốt đẹp vốn dĩ, chỉ cần chút tình thương chạm khẽ vào là có thể sống dậy mãnh liệt, tha thiết. Sự xuất hiện của nhân vật Thị Nở trong tác phẩm có một ý nghĩa thật đặc sắc. Con người xấu đến “ma chê quỉ hờn”, kỳ diệu thay, lại là nguồn ánh sáng duy nhất đã rọi vào chốn tối tăm của tâm hồn Chí Phèo thức tỉnh, gợi dậy bản tính người nơi Chí Phèo, thắp sáng một trái tim đã ngủ mê qua bao ngày tháng bị dập vùi, hất hủi. Sau cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với Thị Nở, Chí Phèo giờ đây đã nhận ra nguồn ánh sáng ngoài kia rực rỡ biết bao, nghe ra một tiếng chim vui vẻ, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá, tiếng lao xao của người đi chợ bán vải… Những âm thanh ấy bao giờ chả có. Nhưng hôm nay Chí mới nghe thấy. Chao ôi là buồn, trong cái phút tỉnh táo ấy, Chí Phèo như đã thấy tuổi già của hắn, đói rét, ốm đau và cô độc – cái này còn sợ hơn đói rét và ốm đau. Cũng may Thị Nở mang bát cháo hành tới. Nếu không, hắn đến khóc được mất trong tâm trạng như thế… Nhìn bát cháo bốc khói mà lòng Chí Phèo xao xuyến bâng khuâng: Hắn cảm thấy lòng thành trẻ con, hắn muốn làm nũng với thị như làm nũng với mẹ… Ôi sao mà hắn hiền! “Hắn thèm lương thiện – Hắn khát khao làm hòa với mọi người”… Từ một con quỉ dữ, nhờ Thị Nở, đúng hơn nhờ tình thương của Thị Nở, Chí thực sự được trở lại làm người, với tất cả những năng lực vốn có. Một chút tình thương, dù là tình thương của một con người dở hơi, bệnh hoạn, thô kệch, xấu xí,… cũng đủ để làm sống dậy cả một bản tính người nơi Chí Phèo. Thế mới biết sức cảm hóa của tình thương kỳ diệu biết nhường nào! Bằng chi tiết này, Nam Cao đã soi vào tác phẩm một ánh sáng nhân đạo thật đẹp đẽ – Nhà văn như muốn hòa vào nhân vật để cảm thông, chia sẻ những giây phút hạnh phúc thật hiếm hoi của Chí Phèo… Nhưng, bi kịch và đau đớn thay, rốt cuộc thì ngay Thị Nở cũng không thể gắn bó với Chí Phèo. Chút hạnh phúc nhỏ nhoi cuối cùng vẫn không đến được với Chí Phèo. Và thật là khắc nghiệt, khi bản tính người nơi Chí Phèo trỗi dậy, cũng là lúc Chí Phèo hiểu rằng mình không còn trở về với lương thiện được nữa. Xã hội đã cướp đi của Chí quyền làm người và vĩnh viễn không trả lại. Những vết dọc ngang trên mặt, kết quả của bao nhiêu cơn say, bao nhiêu lần đâm chém, rạch mặt ăn vạ… đã bẻ gãy chiếc cầu nối Chí với cuộc đời. Và, như Đỗ Kim Hồi nói, “một khi người được nếm trải chút ít hương vị làm người thì cái xúc cảm người sẽ không thể mất… Đấy là mối bi thảm tột cùng mà cách giải quyết chỉ có thể là cái chết”. (Tạp chí Văn học số 3-1990)

    Cái chết bi thảm của Chí Phèo là lời kết tội đanh thép cái xã hội vô nhân đạo, là tiếng kêu cứu về quyền làm người, cũng là tiếng gọi thảm thiết cấp bách: Hãy cứu lấy con người! Hãy yêu thương con người! Đó là tư tưởng, tình cảm lớn mang giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc mà người đọc rút ra được từ những trang sách giàu tính nghệ thuật của Nam Cao. Sự kết hợp giữa giá trị hiện thực sắc bén và giá trị nhân đạo cao cả đã làm cho tác phẩm Chí Phèo bất tử, mãi mãi có khả năng đánh thức trí tuệ và khơi dậy những tình cảm đẹp đẽ trong tâm hồn người đọc mọi thời đại.
    --------------------------------------------------------------------------------------------------------------
    {"HÌNH TƯỢNG RỪNG XÀ NU TRONG TP CÙNG TÊN CỦA NGUYỄN TRUNG THÀNH"}
    Đề: Phân tích hình tượng cây Xà nu trong truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành để từ đó giải thích tại sao tác giả đặt cho truyện của mình cái tên như vậy?

    Mở bài:
    Đọc “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành viết vào năm 1965, rút từ tập “Trên quê hương anh hùng Điện Ngọc”, điều đó để lại ấn tượng sâu đậm cho độc giả chúng ta không chỉ là những nhân vật như cụ Mết, Tnú, Dít, Mai, những con người Tây Nguyên bất khuất kiên trung thủy chung với Cách mạng, mà còn là hình tượng Cây xà nu - một hình tượng độc đáo bao trùm toàn bộ tác phẩm. Chính hình tượng cây xà nu đã tạo nên vẻ đẹp hùng tráng, chất sử thi, lãng mạn cho câu chuyện về làng Xôman bất khuất kiên cường. Đọc tác phẩm này điều mà người đọc nhận ra trước tiên là hình tượng cây xà nu đã trở thành một hình tượng chủ đạo xuyên suốt tác phẩm gắn bó với cuộc sống và mọi sinh hoạt của dân Xôman.

    Thân bài: Trong bài viết “Về truyện ngắn Rừng xà nu”, tác giả Nguyên Ngọc (bút danh là Nguyễn Trung Thành” đã tâm sự: “Ngay từ năm 1962, trên đường vào miền Nam công tác, đến tỉnh Thừa Thiên, giáp Lào, tôi được chứng kiến những rừng xà nu bát ngát xanh tít tận chân trời. Đấy là những cây họ thông, hùng vĩ và cao thượng, Mai dại và trong sạch. Mỗi cây cao vút vạm vớ nhựa ưá ra, tán lá vừa thanh nhã vừa rắn rỏi”. Những cây xà nu có phẩm chất đặc biệt ấy đã gây ấn tượng mạnh mẽ và khơi nguồn cảm hứng cho tác giả ba năm sau (1965) tạo dựng lên hình tượng cây xà nu đặc sắc này.

    Hình tượng cây xà nu được tác giả miêu tả từ nhiều góc độ và đưa lại hiệu quả thẩm mỹ đặc biệt. Trong truyện ngắn này, nhà văn không chỉ mở đầu và kết thúc truyện bằng hình ảnh rừng xà nu bát ngát đến chân trời, mà đã gần 20 lần nói đến “Rừng xà nu”. “Cây xà nu”, “nhựa xà nu”, “lửa xà nu”… Chất sử thi của thiên truyện sẽ không trở thành giọng điệu chính của tác phẩm, nếu thiếu đi hình tượng cây xà nu được khai thác từ nhiều góc độ, được lặp đi lặp lại nhiều lần đến như vậy, nhất là “các đồi xà nu – 4 lần”; “Rừng xà nu – 5 lần”. Thủ pháp điệp trùng khi mô tả cây xà nu đó, vừa làm nền cho toàn bộ diễn biến của câu chuyện, vừa gây ấn tượng sâu sắc cho người đọc về cây xà nu. Nhưng xà nu không chỉ có mặt trong đoạn mở đầu và đoạn kết, mà nó còn hiện diện trong suốt câu chuyện về Tnú và làng Xôman của anh. Xà nu gắn bó với cuộc sống sinh hoạt hàng ngày như đã từ ngàn đời nay thân thuộc với dân làng: ngọn lửa xà nu nấu ăn trong mỗi bếp, đuốc xà nu soi sáng đường rừng đêm, lửa xà nu cháy bập bùng trong nhà ưng tập trung cả dân làng. Khói xà nu đen nhẻm thân hình lũ trẻ; khói xà nu còn làm tấm bảng đen cho anh Quyết dạy Tnú, Mai học chữ cụ Hồ. Xà nu còn tham dự vào những sự kiên quan trọng của cuộc sống làng Xôman: ngọn đuốc xà nu cháy sáng trong tay cụ Mết dẫn cả dân làng đi vào rừng sâu lấy giáo mác đã giấu kỹ về chuẩn bị cho cuộc nổi dậy. Đêm đêm cả dân làng thức mài vũ khi dưới ánh đuốc xà nu. Giặc đốt hai bàn tay Tnú bằng giẻ tẩm nhựa xà nu, lửa xà nu đốt lên lòng căm thù trong lòng người dân Xôman. Rồi ngọn lửa đuốc xà nu soi sáng rực cả làng cái đêm khởi nghĩa; soi rõ xác 10 tên lính nằm ngổn ngang quanh đống lửa … Hình tượng cây xà nu qua ngòi bút Nguyễn Trung Thành đã trở thành một nhân chứng về tội ác của chiến tranh hủy diệt; là người chứng kiến cho sự giác ngộ, hy sinh thầm lặng và sự quất khởi của người dân Xôman. - Mở đầu tác phẩm, tác giả đã vẽ ra trước mắt người đọc một bức tranh toàn cảnh về nỗi đau thương đội bom đạn giặc Mỹ gây ra. Tác giả đã đặt ngay cây Xà nu vào bối cảnh khốc liệt của chiến tranh “ Làng nằm trong tầm đại bác của giặc…”. Cây Xà nu vừa là người chứng kiến sự tàn khốc của chiến tranh, vừa là đối tượng hủy diệt của bom đạn kẻ thủ “Cả rừng xà nu hàng vạn cây, không cây nào bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang thân mình, đổ ào như một cơn bão”. Ở một chỗ khác, tác giả tả kỹ hơn “nơi chỗ vết thương nhựa ứa ra tràn trề thơm ngào ngạt long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại đen và đặc lại quện thành cục máu lớn”. Hình ảnh đó gợi lên nỗi đau thương mất mát, lòng căm thù, kết tụ ý chí phản kháng.

    Hình tượng Cây xà nu còn là hình ảnh tượng trưng cho cuộc sống và phẩm chất người dân Xôman nói riêng, Tây Nguyên nói chung: như giàu khát vọng tự do, giải phóng, phẩm chất anh hùng, sức sống mãnh liệt của các thế hệ nối tiếp nhau.. Chính vì hình ảnh Cây xà nu mang ý nghĩa tượng trưng, nên sự miêu tả loài cây này, luôn luôn được tác giả đặt trong sự đối chiếu với con người, gợi ra những liên tưởng về đời sống và số phận cùng phẩm chất của họ. Cây xà nu rất ham ánh sáng và khí trời: “nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng”. Cũng như Tnú, như dân làng Xôman yêu tự do, khát khao ánh sáng. Bất chấp sự hủy diệt tàn khốc của bom đạn kẻ thù, cây xà nu vẫn vươn lên với một sức sống mãnh liệt không gì tiêu diệt, tàn phá nổi “Bên cạnh một cây Xà nu mới ngã gục, đã có 4, 5 cây con mọc lên ngọn xanh rờn hình nhọn như mũi tên lao thẳng lên bầu trời”, cũng như các thế hệ làng Xôman, lớp này kế tiếp lớp khác đứng lên, tiếp tục cuộc chiến đấu: “Tuốt gươm không chịu xuống quỳ Tuổi xanh chẳng tiếc sá chi bạc đầu Lớp cha trước, lớp con sau Đã thành đồng chí chung câu quân hành” (Tố Hữu) Anh Quyết hy sinh thì có Tnú, Mai. Mai ngã xuống giữa tuổi thanh xuân tràn đầy nhựa sống như Cây xà nu bị chặt đứt ngay giữa thân mình, thì Dít đã lớn lên, và nhanh chóng đến không ngờ trở thành Bí thư chi bộ, chính trị viên xã đội. Rồi những bé Heng, thế hệ tiếp theo của Dít cũng đang lớn lên tiếp bước đàn anh. Chính cụ Mết cũng đã khẳng định được cái sức sống bất tử ấy như một chân lí giản dị: “Không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta, cây mẹ ngã, cây con mọc lên. Đố nó giết hết rừng xà nu này”.

    Nhưng ở rừng xà nu còn xuất hiện những cây khác vững chãi, không chịu khuất phục trước giông bão, đạn bom của kẻ thù “ưỡn tấm ngực lớn của mình che chở cho xóm làng”. Phải chăng đó là hình ảnh cụ Mết - hiện thân của tinh thần quật khởi, người đã nuôi ngọn lửa khát vọng tự do, gắn bó với Cách mạng? “Có những Cây xà nu cành lá xum xuê như những con chim đã đủ lông mao, long vũ, đạn đại bác không gíêt nổi chúng. Những vết thương của chúng chóng lành như trên một cơ thể của chúng chóng lành như trên một cơ thể cường tráng”. Tất cả nối tiếp nhau tạo thành một đội ngũ trùng trùng điệp điệp như rừng xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời. Thủ pháp nghệ thuật so sánh, đối chiếu như một ẩn dụ trên đây trong khi mô tả Cây xà nu, đã tạo nên sự chuyển hóa, hòa hợp giữa hình tượng thiên nhiên và con người, tạo nên một bản hợp xướng đầy chất thơ hào hùng tráng lệ về sức sống bất diệt và cuộc chiến đấu bất khuất kiên trung của nhân dân Tây Nguyên giành tự do.

    Kết luận: Tóm lại, hình tượng xà nu là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Trung Thành. Nó được dùng như một ẩn dụ gợi cho người đọc nghĩ đến con người Tây Nguyên yêu tự do, dồi dào sức sống, bất khuất kiên trung, thủy chung với Cách mạng. Như thế là hình tượng Cây xà nu đã được tác giả đưa lại cho biết bao ý nghĩa mới mẻ giàu tính chất thẩm mỹ và ý nghĩa nhân sinh, trở thành linh hồn tác phẩm.Vì vậy, tác giả đã đặt cho truyện của mình cái tên thật có ý nghĩa: “Rừng xà nu”.

    ........................................ ........................................ ........................................ ........................................ ........\
    mình còn rất nhiều bài hay nhưng không có thời gian để poss,giờ fai đi ngủ mai còn đi hoc,nếu bạn nào cần thi qua yahoo:nh0ck_thu0ngmai_hn1 minh send cho......pipi:hoptac:
    Từ khóa hot:hỏi đáp, game, thuoc la dien tu, thuoc la dien tu chinh hang, http://www.size.vn/, ví nam, ẨM THỰC MÙA ĐÔNG, LÀM ĐẸP MÙA ĐÔNG, BỆNH MÙA ĐÔNG, ORAL SEX, HỎI ĐÁP SỨC KHỎE, HỎI ĐÁP PHÁP LUẬT

    Xem thêm bài viết ngẫu nhiên cùng chủ đề:


  8. #2
    Tham gia
    Apr 2011
    Bài viết
    218
    Like
    0
    Được 0 Like trong 0 bài viết

    Mặc định

    Chia sẻ thêm nhé bạn

  9. #3
    Tham gia
    Apr 2011
    Bài viết
    203
    Like
    0
    Được 0 Like trong 0 bài viết

    Mặc định

    Thanks

  10. #4
    Tham gia
    Apr 2011
    Bài viết
    209
    Like
    0
    Được 0 Like trong 0 bài viết

    Mặc định

    Hix, hix

  11. #5
    Tham gia
    Apr 2011
    Bài viết
    180
    Like
    0
    Được 0 Like trong 0 bài viết

    Mặc định

    Nữa đi bạn ơi

  12. #6
    Tham gia
    Apr 2011
    Bài viết
    198
    Like
    0
    Được 0 Like trong 0 bài viết

    Mặc định

    Bài này tạm được thôi

  13. #7
    Tham gia
    Apr 2011
    Bài viết
    180
    Like
    0
    Được 0 Like trong 0 bài viết

    Mặc định

    Bóc tem

  14. #8
    Tham gia
    Apr 2011
    Bài viết
    191
    Like
    0
    Được 0 Like trong 0 bài viết

    Mặc định

    Cảm ơn bạn nhiều


 
+ Trả Lời Ðề Tài

Người dùng tìm kiếm trang này bằng các từ khóa:

Nobody landed on this page from a search engine, yet!