Quảng cáo
+ Trả Lời Ðề Tài
kết quả từ 1 tới 4 trên 4
  1. #1
    Tham gia
    Feb 2009
    Nơi ở
    Nam Định
    Bài viết
    1.914
    Like
    40
    Được 21 Like trong 14 bài viết

    Mặc định Luận Anh Hùng - Học Hỏi Thánh Nhân

    NHÀ TÀI TRỢ

  2. Game hay
  3. Game Đào Vàng
  4. Game Kim Cương
  5. Học Tiếng Anh
  6. Học Tiếng Anh Online

  7. Khổng Minh Gia Cát Lượng (181-234)

    Lục địa như kỳ cục
    Thế nhân hắc bạch phân,
    Vãng lai tranh vinh lộc.
    Bần giả tự an an,
    Phú giả tự lạc lạc.
    Nam Dương hữu ẩn thổ,
    Cao miên ngoạ bất túc.




    Trời tròn như lọng che,
    Đất xoay như cuộc cờ,
    Tuồng đời đen trắng lẫn,
    Tranh nhau vinh với nhục.
    Kẻ vinh mặt vênh váo,
    Người nhục thân chen chúc,
    Người ẩn sĩ Nam Dương,
    Nằm ngủ không nháy mắt.







    Gia Cát Lượng (181–234) là vị quân sư và đại thần của nước Thục thời hậu Hán. Ông là một chính trị gia, nhà quân sự, học giả, kỹ sư lỗi lạc. Trong quân sự, ông đã tạo ra các chiến thuật như: Bát trận đồ (Hình vẽ tám trận), Liên nỏ (Nỏ Liên Châu, tên bắn ra liên tục), Mộc ngưu lưu mã (trâu ngựa gỗ). Gia Cát Lượng được biết tới nhiều qua tác phẩm Tam Quốc Diễn Nghĩa.



    Tiểu sử


    Gia Cát Lượng, tự là Khổng Minh, là người đất Dương Đô (nay thuộc tỉnh Sơn Đông) quận Lang Nha đời Thục Hán, sinh vào giờ Tuất tháng 4 (Tam Quốc), tự Khổng Minh, Gia Cát là một họ kép ít gặp. Ông mồ côi từ bé , sau tị nạn sang Kinh Châu rồi đến ở đất Nam Dương thuộc vùng Long Trung, chỗ ở có trái núi Ngọa Long cương, nhân thế tự gọi là Ngọa Long tiên sinh, tự mình cày ruộng, thích làm ca từ theo khúc "Lương Phủ Ngâm".


    Ông có 3 anh em, anh cả Gia Cát Cẩn làm quan bên Đông Ngô, em thứ là Gia Cát Quân không làm quan. Ông là người tài giỏi nhất nên người đời sau ví Lưu Bị được rồng trong số 3 người (Lưu, Tào, Tôn).

    Tương truyền ông học giỏi một phần nhờ vợ là Hoàng Nguyệt Anh , con gái của danh sĩ Hoàng Thừa Ngạn ở Nhữ Nam. Người đời mới có câu thơ:



    Mạc học Khổng Minh trạch phụ

    Chi đắc A Thừa xú nữ


    Theo sách "Khổng Minh Gia Cát Lượng", chữ "Cát" trong họ Gia Cát của ông có nguồn gốc từ việc ông là dòng dõi của Cát Anh, một tướng theo Trần Thắng khởi nghĩa chống Tần. Cát Anh có công, bị Trần Thắng giết oan. Khi Hán Cao Tổ lên ngôi đã sai người tìm dòng dõi Cát Anh và cấp đất ăn lộc. Một chi sau này lấy sang họ Gia Cát.


    Sự nghiệp


    Khi Lưu Bị ở Tân Dã, có đến Tư Mã Đức Tháo bàn việc thiên hạ. Tư Mã Đức Tháo có nói: "Bọn nho sinh đời nay chỉ là một phường tục sĩ, hạng tuấn kiệt chỉ có hai người, đó là Ngoạ Long và Phượng Sồ. Ngoạ Long tức Gia Cát Khổng Minh, Phượng Sồ tức Bàng Thống tự Sỹ Nguyên." Lưu Bị 3 lần thân đến Long Trung mời Khổng Minh ra giúp, tôn ông làm quân sư. Lúc bấy giờ là năm 208, Lưu Bị 47 tuổi, Gia Cát Lượng chỉ mới 27 tuổi.


    Khổng Minh đã giúp Lưu Bị đánh bại Tào Tháo ở Xích Bích, lấy Kinh Châu, định Ích Châu, Hán Trung, dựng nước ở đất Thục, cùng với Ngụy ở phía bắc, Ngô ở phía đông làm thành thế chân vạc. Lưu Bị lên ngôi hoàng đế, Khổng Minh giữ chức Thừa Tướng, một lòng khôi phục lại cơ nghiệp nhà Hán, phía đông hòa Tôn Quyền, phía nam bình Mạnh Hoạch.

    N. Mùa hạ năm 221, vừa lên ngôi, Lưu Bị đã muốn lấy lại Kinh Châu và tháng 7 năm đó, để trả thù cho Quan Vũ nên Lưu Bị đã tuyến bố tuyệt giao với Đông Ngô, đem đại quân tiến đánh Tôn Quyền. Lưu Bị đánh Đông Ngô là vi phạm sách lược "liên Ngô chống Tào" của Gia Cát Lượng. Gia Cát Lượng biết đánh Ngô hại nhiều hơn lợi nhưng không can ngăn nổi Lưu Bị nên dẫn đến bi thảm Hồ Đình, thất bại ở Tỷ Quy.

    Lưu Bị trước khi chết đã uỷ thác việc nước cho Gia Cát Lượng, nói rằng: "Tài năng của ông cao hơn Tào Tháo gấp 10 lần, nhất định có thể làm cho nước nhà ổn định, hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước. Nếu như Lưu Thiền con tôi không làm được gì, mong ông giúp đỡ còn như nó bất tài thực sự, ông có thể thay nó". Lưu Bị còn để lại di chúc bắt Lưu Thiện phải kính nể Gia Cát Lượng như cha đẻ.

    Nhà vua Lưu Thiện mới 17 tuổi không có tài, Gia Cát Lượng phải lo lắng toàn cục, chỉnh đốn nội bộ và chấn chỉnh lực lượng. Dưới sự cai trị của ông, nước Thục dần dần mạnh lên. Sau khi trừ bỏ được những lo lắng trong nước, Gia Cát Lượng đã đem quân xuống phía nam để bình định bọn nổi loạn. Gia Cát Lượng ra quan không lâu đã bắt sống được Mạnh Hoạch. Ví dụ nổi tiếng về việc Gia Cát Lượng "chiếm lòng người" chính là việc 7 lần bắt, 7 lần tha Mạnh Hoạch, cho đến khi Mạnh Hoạch thực sự chịu phục.

    Gia Cát Lượng Bắc phạt cả thảy là 7 năm, phát động 4 lần đánh nhau. Mấy lần xuất quân đều chưa giành được thắng lợi hoàn toàn do Lý Nghiêm trễ nải cấp lương nên giả truyền thánh chỉ, 2 lần khác do Lưu Thiện nghe lời dèm pha mà nửa chừng hạ chiếu lui quân.


    Trận Tân Dã

    Sau khi thất bại ở trận Đồi Bác Vọng, Tào Tháo dẫn đại quân đến Kinh Châu. Lưu Tôn và mẹ là Sái thị dâng Kinh Châu cho Tào Tháo. Tào Tháo chiếm được Kinh Châu, đem quân đến Tân Dã truy kích Lưu Bị.


    Khổng Minh bèn lập kế mai phục quân Tào. Ông sai Quan Vũ dẫn 1000 binh đi mai phục phía bờ sông Bạch Hà, quân lính mỗi người mang sẵn một bao cát đợi khi nghe tiếng ngựa hí thì ngăn nước sông xả nước cho nước cuốn chảy xuống. Ông lại sai Trương Phi mai phục ở Bác Lăng và dặn thấy quân Tào băng qua thì xông ra mà đánh. Cuối cùng ông sai Triệu Vân chia quân ba mặt Ðông, Tây, Nam, chừa phía Bắc cho quân Tào chạy, thấy có hiệu lửa thì xông ra mặt Bắc mà đánh đồng thời lệnh cho quân lính mang đồ dẫn lửa để sẵn trong nhà dân sau khi mọi người đã chạy đến Phàn Thành.


    Sau đó, quân Tào do Tào Nhân, Tào Hồng, Hứa Chử kéo đến. Hứa Chử dẫn quân vào rừng gặp Lưu Bị, Khổng Minh, định lên bắt nhưng bị gỗ, đá cản lại. Còn Tào Nhân, Tào Hồng thẳng tiến đến thành Tân Dã, thấy cửa thành mở rộng bèn dẫn quân vào thành thì thấy đây chỉ là tòa thành trống. Lúc ấy quân Tào tất cả đầu mỏi mệt nên nấu cơm ăn để nghỉ ngơi. Bỗng đêm đó, có tin báo lửa cháy, Tào Nhân đang trấn an quân sĩ thì lại có tin báo lửa cháy khắp cả thành. Tào Nhân thất kinh chạy ra thì thấy cả vùng lửa cháy ngút trời. Quân Tào thi nhau chạy trốn, chết không biết bao nhiêu mà kể.


    Tào Nhân, Tào Hồng đang tìm đường thoát thân thì gặp quân của Triệu Vân ùa ra đánh giết, đang lúc nguy cấp thì quân dọ thám cho hay phía Bắc không có lửa nên quân Tào đổ ùa sang phía Bắc mà chạy. Tào Nhân chạy được một khoảng, kiểm điểm lại binh mã thấy hao hơn phân nửa. Quân Tào chạy một lúc nữa lại có con sông chặn trước mặt, nhưng nước cạn nên quân Tào không lo nữa, dẫn quân qua sông. Quan Vũ phục ở mé trên, thấy quân Tào đã tới, bèn cho quân xả nước xuống, nước chảy xuống như thác vỡ bờ cuốn trôi quân Tào vô số. Tào Nhân, Tào Hồng dẫn tàn binh trốn chạy, bỗng đâu gặp Trương Phi, may nhờ có Hứa Chử đến cứu.


    Sau đó Lưu Bị, Khổng Minh và các tướng thẳng tới Phàn Thành còn Tào Nhân dẫn đám bại binh về ra mắt Tào Tháo xin chịu tội. Tào Tháo tức giận Khổng Minh lắm, kéo đại binh tới ngay Tân Dã để báo thù, tạo nên trận Trường Bản sau này. Người đời sau có thơ khen trận Tân Dã: " Phong Bá ra oai Tân Dã huyện, Chúc Dung bay xuống Diễm Ma thiên"




    Trận Xích Bích và việc đoạt tên của Tào Tháo


    Trong trận Xích Bích, Khổng Minh đến Giang Đông giúp đỡ đại đô đốc của Đông Ngô là Chu Du chống Tào Tháo. Nhưng Chu Du lại ganh tị với tài năng của Khổng Minh nên muốn tìm cách hại ông. Đầu tiên Chu Du sai Khổng Minh dẫn quân đi cướp trại Tào Tháo nhưng ông đã khéo léo từ chối. Sau đó, Chu Du sai Khổng Minh trong 10 ngày làm 10 vạn mũi tên nhưng cố tình dặn thợ tên làm chậm nhằm hại Khổng Minh. Nhưng Khổng Minh hẹn trong 3 ngày sẽ làm xong. Chu Du mừng quá bảo Khổng Minh viết tờ quân lệnh. Khổng Minh bèn đến tìm Lỗ Túc là mưu sĩ của Đông Ngô mượn hai mươi chiếc thuyền, mỗi chiếc có chừng ba mươi quân sĩ, trên thuyền dùng vải xanh làm màn che xung quanh, lại bó cỏ với rơm cho nhiều. Lỗ Túc nhận lời nhưng không hiểu Khổng Minh làm gì.

    Chu Du mừng thầm nghĩ phen này Khổng Minh chết chắc. 2 ngày đầu Khổng Minh không làm gì cả. Đến ngày thứ ba, vào đầu canh tư, Khổng Minh bỗng bí mật cho mời Lỗ Túc đến uống rượu rồi lại sai người lấy dây chạc dài, buộc hai mươi chiếc thuyền liền lại với nhau, rồi bảo quân nhắm bờ phía Bắc thẳng tới.Ngay ấy, sương mù rất nhiều. Đến đầu canh năm , Khổng Minh tiến sát đến thủy trại của Tào Tháo, Khổng Minh sai thủy thủ dàn ngang đoàn thuyền ra rồi đánh trống vang trời, hò reo ầm ĩ. Các tướng Ngụy thấy vậy chạy về báo với Tào Tháo. Tào Tháo thấy sương mù dày đặc sợ có phục binh nên hạ lệnh cho quân sĩ bắn tên loạn xạ vào quân Khổng Minh. Đợi đến gần sáng, Khổng Minh dẫn quân trở về, 20 chiếc thuyền cắm đầy tên của quân Tào, tính ra hơn 10 vạn. Chu Du trông thấy vô cùng kinh hãi, tự thấy tài kém Khổng Minh rất nhiều.



    Khổng Minh cầu gió Đông giúp Chu Du


    Chu Du chờ hoài không thấy gió đông nên lâm bệnh nặng. Khổng Minh bảo Lỗ Túc có cách chữa bệnh cho Chu Du. Lỗ Túc dẫn Khổng Minh vào gặp Chu Du. Khổng Minh đưa Chu Du 4 câu thơ: "Muốn đánh Tào quân, Phải dùng hỏa công, Mọi sự đều có, Chỉ thiếu gió Ðông." Chu Du thất kinh hỏi cách. Khổng Minh bảo Chu Du hãy truyền xây ngay một đài thất tinh ở chân núi Nam Bình, cao bảy trượng, chia ba tầng, có hai trăm quân cầm cờ , ông sẽ cầu gió Đông luôn ba ngày ba đêm để giúp Chu Du. Lập tức Chu Du sai cất đài như lời Khổng Minh dặn, xong rồi giao cho Khổng Minh hai trăm quân sĩ cầm cờ quay theo các phương hướng. Chính giữa có cái đàn để Khổng Minh lên cầu gió .


    Ngày Giáp Tí, Khổng Minh tắm gội sạch sẽ, mặc áo đạo sĩ, đi chân không lên đàn, lại dặn Lỗ Túc về giúp Chu Du việc binh. Sau đó Khổng Minh truyền: "Đạo trường trang nghiêm, pháp linh như núi, các tướng sĩ không được rời khỏi quân vị, không được to nhỏ nói chuyện, không được mở miệng nói bậy, không được giật mình ngạc nhiên, không được tâm sanh tạc điểm, ai trái lệnh bị chém". Rồi Khổng Minh lên đàn thắp nhang, làm phép cầu ba lần, vẫn chưa có gió. Đến canh hai, gió Đông nam thổi tới rất mạnh, quân Ngô nhân cơ hội đó châm lửa phóng hỏa đốt sạch chiến thuyền quân Ngụy. Chu Du vừa mừng vừa sợ bèn sai Ðinh Phụng, Từ Thịnh đi ngay tới núi Nam Bình để lấy đầu Khổng Minh nhưng tới nơi thì Khổng Minh đã được Triệu Vân cứu thoát.


    Thực chất, khi Lưu Bị được Chu Du mời sang Đông Ngô để ám sát nhưng không thành, trước khi về có ghé thăm Khổng Minh. Lúc đó, Gia Cát Lượng đã lượng trước được tình hình nên nhờ Lưu Bị bảo Triệu Vân đưa 1 chiếc thuyền đợi sẵn ở chân núi Nam Bình, sau khi cầu được gió Đông xong sẽ trở về ngay, không được trễ. Việc lập đài cầu gió Đông Nam chẳng qua chỉ là hành động phụ thêm của Không Minh nhằm qua mắt Công Cẩn, tiện thoát thân. Qua đó có thể thấy được sự tinh thông thiên văn, thời tiết...của Gia Cát Lượng. Nhờ "gió Đông nam của Khổng Minh" mà quân Ngô đại thắng quân Ngụy, Chu Du không bị nỗi nhục mất nước, mất vợ nên về sau thi sĩ đời Đường Đỗ Phủ có 2 câu thơ: "Gió Đông nếu chẳng vì Công Cẩn / Đồng Tước đêm xuân khóa Nhị Kiều".



    Gia Cát Lượng ra Tây Xuyên dùng mẹo bắt Trương Nhiệm



    Sau khi Bàng Thống mất, Lưu Bị mời Khổng Minh ra Tây Xuyên để đánh chiếm Ích Châu. Khổng Minh giao Kinh Châu lại cho Quan Vũ rồi cùng Trương Phi, Triệu Vân vào Tây Xuyên. Khổng Minh muốn chiếm Lạc thành nhưng ngại Trương Nhiệm là người đã giết Bàng Thống nên tìm kế bắt Trương Nhiệm.


    Ông xem xét địa hình rồi sai Ngụy Diên đem quân phục ở phía đông cầu Kim Nhạn, cầm trường thương phục bên tả hễ địch chạy qua thì cứ nhằm tướng cởi ngựa mà đâm, Hoàng Trung dẫn quân phục phía hữu chỉ dùng đao chém chân ngựa, Trương Nhiệm sẽ chạy qua đường nhỏ phía Ðông. Trương Phi phục sẳn quân nơi đây mà bắt còn Triệu Vân thì chờ Trương Nhiệm chạy qua cầu Kim Nhạn thì chặt gẫy ngay cầu ấy. Phân công xong, Khổng Minh đích thân đi dụ địch. Trương Nhiệm dẫn Trác Ung ra trận, gặp Khổng Minh liền dẫn quân ra đánh, Khổng Minh bỏ xe lên ngựa chạy qua cầu. Trương Nhiệm đuổi theo một quãng thì gặp Huyền Ðức và Nghiêm Nhan đổ ra chặn đánh. Nhiệm toan quay về thì cầu đã bị chặt gẫy. Nhìn bờ phía Bắc thì Triệu Vân chận, liền chạy vào đường nhỏ thì gặp quân phục của Ngụy Diên, Hoàng Trung. Trương Nhiệm chỉ còn vài chục kỵ binh theo sau chạy vội vào đường núi thì Trương Phi hiện ra, quát một tiếng như sấm, Nhiệm luống cuống thì bị các bộ tướng của Phi xông lại bắt sống. Trương Nhiệm bị bắt giải tới gặp Lưu Bị và Khổng Minh nhưng không chịu hàng nên bị Khổng Minh sai đem ra chém. Chiếm được Lạc Thành, Lưu Bị sau chiếm luôn Ích Châu.



    Gia Cát Lượng bệnh mất ở Ngũ Trượng Nguyên và dùng kế giết Ngụy Diên


    Tháng 8 năm 234 , do khó nhọc mà Gia Cát Lượng sinh bệnh nặng , ông qua đời lúc mới 54 tuổi , được phong tặng là Trung Vũ Hầu người đời thường gọi là Gia Cát Vũ Hầu.


    Theo Tam Quốc Diễn Nghĩa :

    Khổng Minh sau khi thất bại trong việc tiêu diệt 2 cha con Tư Mã Ý ở Thượng Phương cốc cộng với thất bại của quân Đông Ngô nên ông lâm trọng bệnh ngất xỉu. Khi ông tỉnh dậy bảo Khương Duy ông không sống được lâu nữa, Khương Duy nghe vậy thất kinh khuyên ông dùng phép cầu thọ. Khổng Minh bèn bày đủ lễ vật, trên mặt đất thắp bảy ngọn đèn to, dưới thắp bốn mươi chín ngọn đèn nhỏ, phía trong để một cái đèn bổn mạng rồi cầu trời đất cho ông sống thêm 1 kỷ nữa để phục hưng nhà Hán. 7 ngày sau ông thấy ngọn đèn bổn mạng vẫn sáng thì cả mừng bỗng nghe bên ngoài có tiếng la ó thì thấy Ngụy Diên chạy vào báo có binh Ngụy kéo đến, chẳng may Ngụy Diên lật đật làm đổ ngọn đèn chủ tắt đi. Khỗng Minh bèn quăng gươm xuống đất mà than: "sống chết có mạng không sao cầu được". Khương Duy tức giận muốn chém Ngụy Diên nhưng Khổng Minh ngăn lại. Sau đó, Khổng Minh gọi Khương Duy lại truyền thụ 24 thiên binh thư do ông viết ra, dặn dò các tướng cẩn thận, viết di thư cho Hậu chúa Lưu Thiện rồi bày kế cho Dương Nghi khi ông chết đừng phát tang , hãy làm một cái hộp lớn , để ta ngồi trong, lấy bảy hạt gạt bỏ vào miệng ta, dưới chân để một ngọn đèn thật sáng, ba quân không được khóc lóc thì tướng tinh của ông sẽ không rớt làm cho Tư Mã Ý sẽ nghi sợ rồi cho hậu quân lui trước rồi cứ từng dinh mà rút dần. Nếu Tư Mã Ý dẫn quân đến thì đẩy xe có tượng gỗ của ông ra thì Tư Mã Ý thấy vậy tất sợ mà chạy. Lát sau, thượng thư Lý Phúc vào hỏi chuyện triều đình, Khổng Minh dặn dò nữa chừng thì qua đời, hưởng thọ 54 tuổi, bấy giờ là năm Kiến Hưng 12 .


    Sau khi Gia Cát Lượng mất, Ngụy Diên quả nhiên làm phản nhưng Khổng Minh đã tiên đoán trước nên bày kế cho Mã Đại chém chết Ngụy Diên.




    ...........




    Quân Thục trở về Thành Đô cùng xác Khổng Minh , cả Thục Hán rợp một màu cờ để tang ông , khắp nơi thiên hạ khóc than cho một vị quân sư tài đức song toàn . Hậu chúa Lưu Thiện , vốn coi Khổng Minh như một người cha , đã cho mai táng ông một cách trọng thể tại núi Ðịnh Quân như ý nguyện của ông rồi phong hàm ân cho Khổng Minh làm Trung Vũ Hầu, lập miếu nơi Miêu Dương. Con trai Khổng Minh là Gia Cát Chiêm thủ hiếu cư tang . Khổng Minh mất mà vẫn không trung hưng được nhà Hán, nước vẫn ở thế chân vạc chia ba. Ba mươi năm sau khi ông mất, Lưu Thiện đầu hàng nước Ngụy, nước Thục bị diệt vong.



    Suốt hai đời vua là Lưu Bị và Lưu Thiện, mọi việc chính trị, quân sự và kinh tế ở Thục đều do một tay Khổng Minh chủ trương và thi hành. Ông giỏi về binh thư binh pháp, có tài về nội trị, ngoại giao, được xem là văn võ kiêm toàn, tài đức lưỡng bị... nên được hậu thế gọi là "vạn đại quân sư", được coi là một tấm gương sáng cho muôn thuở.







    Đại mộng thuỳ tiên giác,
    Bình sinh ngã tự tri.
    Thảo đường xuân thuỵ túc,
    Song ngoại nhật trì trì.

    ...
    Mộng dài ai sớm tỉnh
    Đời ta ta biết ta
    Yên giấc xuân am cỏ
    Cửa sổ bóng câu qua

    Từ khóa hot:hỏi đáp, game, thuoc la dien tu, thuoc la dien tu chinh hang, thoi trang cong so, ví nam, ẨM THỰC MÙA ĐÔNG, LÀM ĐẸP MÙA ĐÔNG, BỆNH MÙA ĐÔNG, ORAL SEX, HỎI ĐÁP SỨC KHỎE, HỎI ĐÁP PHÁP LUẬT

    Xem thêm bài viết ngẫu nhiên cùng chủ đề:

    :pangchiu::Yoyo36::Yoyo36:

  8. #2
    Tham gia
    Feb 2009
    Nơi ở
    Nam Định
    Bài viết
    1.914
    Like
    40
    Được 21 Like trong 14 bài viết

    Mặc định Tào tháo (155–220)

    Tào tháo (155–220)
    Trường Giang cuồn cuộn chảy về Đông
    Bạc đầu ngọn sóng cuốn anh hùng
    Thi phi thành bại theo dòng nước
    Sừng sững cơ đồ bỗng tay không


    Núi xanh nguyên vẻ cũ
    Bao độ ánh chiều hồng


    Một vò rượu nếp vui gặp gỡ
    Chuyện đời tan trong chén rượu nồng


    ...


    Đã mờ rồi ánh kiếm, ánh đao
    Lùi xa rồi tiếng loa, tiếng trống


    Vẫn rõ ràng sống động
    Bao gương mặt anh hùng


    Con đường xưa ngập trong cát bụi
    Thành quách xưa hóa thành hoang tàn
    Năm tháng oai hùng thành lịch sử
    Bao chiến công, tên tuổi còn vang


    Mộng bá vương ai người quyết định
    Lẽ thịnh suy há chẳng có nguyên nhân
    Sự đời vần vũ như mây gió
    Đổi thời gian, đổi cả không gian


    Tụ tán nhờ có duyên
    Ly hợp vốn do tình
    Trả món nợ non sông trước mắt
    Mặc đời sau thiên hạ luận bình


    Nước Trường Giang hóa thành sông lệ
    Gió Trường Giang vang mãi bài ca
    Giữa bầu trời lịch sử.
    Muôn triệu ánh sao sa
    Trong dân gian vạn thưở
    Ấy muôn triệu đóa hoa



    .....






    Tào Tháo (tự là Mạnh Đức; 155–220)

    Sinh năm: 155 S.CN. Mất: 15-3-220 S.CN, thọ 65 tuổi.
    Quê quán: Tiêu Quận nước Bái (tức Bạc Châu, An Huy, Trung Quốc)
    Quan chức: Thừa tướng nhà Hán,tước Ngụy vương.
    Miếu hiệu: Thái Tổ Võ Hoàng Đế nhà Nguỵ

    Tiểu sử


    Tào Tháo nguyên gốc là họ Hạ Hầu. Cha ông là Hạ Hầu Tung, do làm con nuôi của một vị hoạn quan là Tào Đằng, nên đổi họ lại thành Tào Tung.

    Năm 20 tuổi, ông thi đỗ Hiếu Liêm, làm quan cai trị kinh thành Lạc Dương, đã nổi tiếng là người nghiêm túc. Chú của đại thần Kiển Thạc phạm tội vác dao đi đêm, ông sai bắt vào phủ đánh roi thẳng thừng không vì nể.


    Sự nghiệp



    Năm 184, cuộc khởi nghĩa Hoàng Cân do Trương Giác lãnh đạo bùng nổ. Tào Tháo cùng các quân phiệt địa phương cùng các tướng trong triều đình đàn áp thành công, nên được phong làm quan trong triều.


    Khi Thứ sử Tây Lương là Đổng Trác không chế triều đình, tự xưng là Thái sư, Tào Tháo chủ trương hành thích Đổng Trác. Do việc không thành nên Tào Tháo đã bỏ trốn và tham gia vào nhóm quân chư hầu do Viên Thiệu cầm đầu đánh Đổng Trác.


    Năm 191 ,qua sự việc tranh giành quyền lực, thanh toán lẫn nhau giữa tướng quân Hà Tiến và mười hoạn quan trong cung đã tạo ra mầm mống cho các cuộc bạo loạn sau này, đã có một số thảo luận bí mật trong liên minh về việc đưa ai lên nối ngôi nhưng các thành viên của liên minh dần dà bị tiêu diệt hoặc phải bỏ chạy. Chiến tranh thực sự diễn ra khi Đổng Trác rời bỏ Lạc Dương .


    Tháng 8 năm 195 vua Hiến Đế phải rời Trường An bắt đầu một chuyến du hành đầy nguy hiểm về phương đông để tìm những người ủng hộ.

    Năm 196, khi ông gặp Tào Tháo ở Hứa Đô, phần lớn các đối thủ tranh giành quyền lực cỡ nhỏ đã bị thu phục hay tiêu diệt bởi các thế lực lớn hơn. Đế chế nhà Hán đã bị chia sẻ giữa một số lãnh chúa lớn trong các khu vực. Viên Thiệu chiếm phần trung tâm phía bắc bao gồm Thanh Châu, Tinh Châu, Ký Châu và U châu (khu vực tỉnh Hà Bắc và phụ cận hiện nay), mở rộng quyền lực lên phía bắc sông Hoàng Hà chống lại Công Tôn Toản, là người chiếm giữ khu vực biên giới phía bắc. Tào Tháo, ở phía nam của họ Viên, bị lôi cuốn vào cuộc chiến với Viên Thuật là người chiếm giữ vùng lưu vực sông Hoài (Hoài Nam) và Lưu Biểu ở miền trung sông Dương Tử (Kinh Châu). Xa hơn về phía nam là viên tướng trẻ Tôn Sách (con Tôn Kiên) thiết lập quyền lực tại khu vực hạ lưu sông Dương Tử (Giang Đông). Về phía tây, Lưu Chương chiếm Ích Châu trong khi đó Hán Trung và khu vực tây bắc bị chiếm giữ bởi một số các lãnh chúa nhỏ như Trương Lỗ, Trương Tú, Hàn Toại, Mã Đằng.


    Tào Tháo, sau này là người sáng lập nhà nhà Ngụy, đã nổi binh mùa đông năm 189. Ông đã thu được khoảng 300.000 quân Khăn Vàng cũng như một loạt các nhóm quân sự có nguồn gốc bộ tộc vào quân đội của mình. Năm 196 ông ta thiết lập kinh đô cho nhà Hán ở Hứa Xương (Hứa Đô) và phát triển nông nghiệp trên cơ sở sử dụng sức lính để tăng thêm lương thảo cho quân đội. Sau khi tiêu diệt Viên Thuật năm 197 và các lãnh chúa miền đông như giết Lã Bố (198) và làm suy yếu Lưu Bị (199-200) ở Từ Châu trong một sự kế tiếp nhanh chóng, Tào Tháo nhằm sự chú ý của ông ta vào phía bắc tới Viên Thiệu, người trong cùng năm đó đã tiêu diệt kẻ thù phía bắc của mình là Công Tôn Toản.

    Sau nhiều tháng lập kế hoạch, hai bên đã giao tranh tại Quan Độ vào năm 200 . Trong trận chiến Quan Độ, bằng sự khôn ngoan mưu lược, Tào Tháo đã lật ngược tình thế , vượt qua đội quân đông đảo hơn của họ Viên (hơn 300.000 người so với 200.000 quân của Tào Tháo), Tào Tháo đã đánh bại ông ta và làm tan rã quân miền bắc. Năm 202, giành hoàn toàn thế chủ động sau cái chết của Viên Thiệu và sự chia rẽ của ba con trai , Tào Tháo tiến lên phía bắc sông Hoàng Hà. Với chiến thắng Quan Độ , Tào Tháo chẳng những thừa hưởng được một số binh lực hùng hậu của Viên Thiệu mà còn tạo được thế lực thống nhất Hoa Bắc

    Ông chiếm Nghiệp thành năm 204 và xâm chiếm các tỉnh Ký Châu, Tinh Châu, Thanh Châu và U Châu. Cuối năm 207, sau những chiến dịch nhỏ chống lại người Ô Hoàn , Tào Tháo đã giành được sự thống lĩnh không thể tranh cãi đối với miền đồng bằng Hoa Bắc gồm các tỉnh như Liêu Ninh, Sơn Tây, Nội Mông và Bắc Kinh ngày nay.


    Sau khi liên minh với Viên Thiệu bị tan vỡ, Lưu Bị phải chạy về Kinh Châu nương náu dưới trướng Lưu Biểu.


    .......


    Sau này do chủ quan khinh địch và thiếu kinh nghiệm chiến đấu đường thủy, nên trong trận chiến Xích Bích đội quân Tào Tháo bị thất bại trước liên quân của 2 quân phiệt khác là Lưu Bị và Tôn Quyền, đổ vỡ kế hoạch thống nhất Trung Quốc. Từ đó, Tào Tháo quyết định tập trung xây dựng nền tảng chính trị ở phía Bắc và chờ đợi thời cơ.

    Với chiêu bài "Mượn tiếng thiên tử để ra lệnh cho chư hầu", Tào Tháo đưa Hán Hiến đế để làm bình phong thực hiện các quyết định chính trị, quân sự. Táo Tháo đã lập đô ở Hứa Xương, khống chế triều đình, tự xưng Thừa tướng (năm 208), thăng dần đến tước Ngụy công rồi Nguỵ vương.

    Sau trận Xích Bích, về cơ bản thế đứng của ba họ Tào, Tôn và Lưu khá vững, lực lượng khá cân bằng nên Tào Tháo không còn thời cơ nam tiến thuận lợi để thống nhất Trung Hoa nữa. Thế chân vạc hình thành.



    Chân dung một chính trị gia


    Theo mô tả của một số tài liệu, Tào Tháo tuy có hình dáng thấp nhỏ nhưng từ nhỏ thông minh hơn người, lại mang chí lớn. Hứa Thiệu - một người giỏi tướng số nhận định Tào Tháo: "Thời trị, ông là bầy tôi giỏi; Thời loạn, ông là kẻ gian hùng".



    Quan niệm của Tào Tháo


    Đó là "Thà giết lầm còn hơn tha lầm" "Ta thà phụ thiên hạ chứ không để thiên hạ phụ ta" (hoàn toàn trái ngược với chủ trương của Lưu Bị "thà chết chứ không làm điều bất nghĩa"), chính vì vậy Tào Tháo luôn e dè và xem Lưu Bị là kẻ thù nguy hiểm nhất của mình. Với quan niệm này ông đã nhẫn tâm giết nhầm gia đình Lã Bá Xa khi đang trong tình trạng trốn chạy sự truy bắt của Đổng Trác vì nghĩ họ mài dao để giết mình nhưng thực ra họ định mổ heo để đãi đằng ông như một vị khách



    Dùng tóc thay thủ cấp


    Do phải hành quân qua một ruộng lúa nên Tào Tháo căn dặn không ai được làm tổn hại dù chỉ là một nhành lúa trên cánh đồng. Nhưng con ngựa của Tào Tháo sau đó lại bị bầy chim đang ăn trên ruộng lúa chợt bay vút lên khiến nó hoảng sợ giẫm đạt nát một góc ruộng, Tào Tháo rút gươm kề cổ mình trong tư thế chuẩn bị tự sát thì quan quân xúm lại can ngăn, ông bèn cắt chỏm tóc trên đầu và nói "ta tạm tha tội cho mình, nhưng dùng tóc để thay đầu". Đây cũng là một trong những kỹ xảo chính trị của Tào Tháo.



    Mượn thủ cấp để mua lòng quân



    Đây là một việc làm bá đạo, trong một lần đánh chiếm thành trì, do không đủ lương thực nên ông đã sai người cấp phát lương thực làm cái đấu đong gạo nhỏ lại để đong ít số gạo kéo dài thời gian, sau đó ông đổ tội cho viên quan trông coi việc cấp phát rồi bêu đầu để trấn an lòng quân. Vì việc làm trên Tào Tháo đã trả công cho sự hy sinh oan uổng của viên quan này đó bằng cách nhận phụng dưỡng suốt đời gia đình của anh ta.


    Không nhắc lỗi lầm của thủ hạ

    Trong trận Quan Độ, Tào Tháo phá tan đại quân Viên Thiệu. Thiệu thu tàn quân bỏ chạy qua sông Hoàng Hà, trong lúc vội vã hoảng sợ, công văn giấy tờ bỏ lại hết. Tào Tháo kéo tới, bắt được đống công văn đó. Nghe báo cáo của cấp dưới, ông biết trong đống công văn có nhiều thư từ của những người cấp dưới mình từng tư thông với Viên Thiệu. Các thuộc hạ của ông đề nghị nên đối chiếu tên từng người để về Hứa Xương sẽ bắt trị tội. Nhưng Tào Tháo xua tay, ra lệnh hãy đốt cả đi. Mọi người ngạc nhiên hỏi vì sao, ông bảo:

    Khi Viên Thiệu mạnh, ta yếu, ngay cả ta lo giữ mình còn không xong, huống chi là người khác?
    Sự độ lượng của Tào Tháo khiến những người cấp dưới vô cùng khâm phục, những người từng manh tâm phản ông cũng hết sức cảm kích. Về điểm này, nhiều chính trị gia đương thời và sau ông chưa thể so sánh được.


    Chiến thắng Viên Thiệu, lấy ít chọi nhiều



    Một trong những ưu điểm của Tào Tháo là biết nhìn người và rất biết cách dùng người. Theo nhận xét từ Tuân Húc, một mưu sĩ của Tào Tháo:

    "Chủ công có tính quyết đoán, có kế hay là dùng ngay, Viên Thiệu thích mưu kế nhưng lại hay do dự"

    Vì vậy ông tận dụng tối đa những lợi thế và các tướng tài mà mình sẵn có, cộng thêm lợi dụng thời cơ bởi sự lưỡng lự của Viên Thiệu rồi lần lượt đánh chiếm các thành trì quan trọng ở miền Bắc bao gồm cả Duyện Châu. Cuối cùng với số quân khá ít ỏi so với Viên Thiệu, Tào Tháo chiếm được thời cơ để đẩy Viên Thiệu vào tình trạng bế tắc trên đường tháo chạy lâm trọng bệnh qua đời. Do đó, con số 83 vạn quân Tào hùng hậu ở trận Xích Bích hầu hết do Tào Tháo thừa hưởng từ đội quân của Viên Thiệu mà ra.


    Chọn điểm dừng thích hợp


    Năm 215, Tào Tháo gần như lùi hẳn về Bắc củng cố thế lực rồi dâng biểu ép vua phải phong mình là Ngụy Vương để có đủ uy quyền mà trấn áp quân Đông Ngô. Có tướng hỏi sao ông "không lập quốc và xưng đế"? Tào Tháo chỉ nói : "Cô đã trải qua bao năm chiến chinh hy vọng giữ vững giang sơn bờ cõi nhà Hán. Nay được làm đến chức Ngụy Vương Cô đã mãn nguyện lắm rồi, nếu có thì Cô chỉ mong được như Chu Văn Vương ngày xưa thôi chứ nào ham gì chức vị đế vương?".

    Tuy nhiên khi Tào Tháo qua đời vào năm 220 thì người con kế vị là Tào Phi đã bức vua Hán Hiến Đế nhường ngôi, xưng đế và lần lượt hai vương quốc còn lại là Thục và Ngô cũng chính thức tuyên bố lập quốc. Việc Tào Tháo so mình với Tây Bá Hầu Cơ Xương đời nhà Chu chẳng qua ông không muốn mang tiếng soán ngôi nhà Hán, nhưng đã sắp đặt cho con cháu mình sẽ là người kế tục sự nghiệp đế vương sau này.

    Trong toàn bộ sự nghiệp của mình, Tào Tháo rất biết sử dụng và trọng dụng nhân tài và sự rộng rãi hào phóng sẵn có nên rất nhiều nhân tài theo ông, về sau có khá nhiều nhân tài tại nước Ngụy được xét vào hàng đầu trong thời Tam Quốc.



    Thời loạn


    Tào Tháo đã đi một nước cờ rất hoàn mỹ, đó là dùng chức thừa tướng nhà Hán của mình để khống chế thiên tử, dùng thiên tử để ra lệnh cho chư hầu. Tuy Tào Tháo ít nhiều cũng có công trong lịch sử Trung Hoa nhưng con đường sự nghiệp của ông lại đầy ắp những mưu mô và thủ đoạn, tuy hậu đãi tướng lĩnh và quan quân dưới quyền mình nhưng Tào Tháo rất nặng tay với những tổ chức có ý định chống đối hoặc những ai mưu phản lại mình.



    Tào Tháo được coi là một nhân vật giỏi nhất thời Tam Quốc bấy giờ. Chính ông đã tạo ra cơ sở thành lập nên ba vương triều trong lịch sử Trung Hoa (cuối đời nhà Tấn, Trung Quốc cũng bị chia làm hai). Dưới sự lãnh đạo của Tào Tháo, chính quyền nhà Ngụy lúc ấy mạnh nhất, hơn Tây Thục và Đông Ngô. Nếu như trước kia Tào Tháo trừ được Lưu Bị khi còn đang trong cung và tiên liệu trước sự việc con cháu của Tôn Kiên sẽ thay cha lập quốc thì có lẽ Tào Tháo đã sớm chiếm trọn vẹn lãnh thổ Trung Hoa rộng lớn rồi. Do vậy sau thất bại ở Xích Bích, ông thấy thực lực của Lưu - Tôn khá mạnh nên đã lùi về Bắc củng cố lực lượng, phát triển kinh tế chờ thời cơ thích hợp.


    Một điều đáng tiếc là sự liên minh giữa Thục và Ngô lại nhanh chóng tan vỡ vì Gia Cát Lượng do chủ quan cho Quan Vũ trấn giữ ở Kinh Châu nên Quan Vũ đã bị Đông Ngô giết, Kinh Châu bị chiếm mất. Lưu Bị do nôn nóng báo thù kéo quân vây đánh Đông Ngô mà bỏ ngoài tai những lời can gián của Gia Cát Lượng. Lúc ấy Tào Tháo có thể thừa dịp mà thu thiên hạ về mình nhưng ông đã qua đời trước đó gần một năm vì chứng đau đầu (220). Con cháu kế vị Tào Phi như Tào Phương, Tào Mao bất tài, nên bị con cháu họ Tư Mã lật đổ không lâu sau đó.






    Nói tới Tào Tháo, người đọc Tam Quốc diễn nghĩa hẳn nhớ hình ảnh của ông như một kẻ tài giỏi nhưng gian trá, đa nghi . Nhưng nhìn nhận một cách khách quan thì Tào Tháo là nhân vật tài giỏi nhất thời Tam Quốc, văn võ toàn tài, trị dân giỏi. Nếu so sánh với các vị vua sáng nghiệp khác của Trung Quốc thì Hán Cao Tổ cũng trí trá nhưng kiểu bịp bợm và lưu manh, Tống Thái Tổ thì mờ nhạt, may nhờ thời vận, Minh Thái Tổ thì cũng không khác với Hán Cao Tổ là mấy . Xem ra chỉ còn có Đường Thái Tông, có lẽ là vị vua tài giỏi nhất trong toàn bộ lịch sử 5000 năm của Trung Quốc, là có thể so sánh được với Tào Tháo (tất nhiên công nghiệp của Đường Thái Tông vượt xa Tào Tháo, nhưng đó là chuyện khác).




    Về võ nghiệp thì Tào Tháo không những thống nhất phương Bắc mà còn đánh tan người Khương, người Hung Nô, và dùng chính sác ngoại giao mềm dẻo để ổn định biên giới. Nhưng cũng có người cho rằng chính vì họ Tào không cương quyết trong cuộc tranh đấu với các tộc Hồ thành ra di họa sau này, tới thời Tây Tấn, mới xảy ra hiện tượng Ngũ Hồ loạn Hoa.



    Đa nghi như Tào Tháo


    Chuyện rằng có một lần Tào Tháo đem quân đi chinh phạt nhà Thục. Quân Thục chống trả quyết liệt và cố thủ vững chắc. Cuộc chiến kéo dài, quân Tào mệt mỏi, tiến thoái lưỡng nan. Thấy tình thế khó nuốt được Thục, Tào bèn ban mật khẩu “Kê cân”. Một tướng giỏi của Tào là Dương Tu nghe lỏm được, liền truyền lệnh cho quân sĩ thu xếp hành trang, chuẩn bị rút. Thấy lạ, quân tả hữu liền hỏi:


    Tại sao tướng quân lại cho quân rút sớm vậy?


    Dương Tu đáp:


    Quan Thừa tướng đã ban mật khẩu “Kê cân” (nghĩa là gan gà) ý muốn nói ăn không được, vứt thì tiếc. Vậy việc rút quân chỉ nay mai thôi.


    Biết chuyện này, Tào Tháo khép tội Dương Tu là tiết lộ việc quân cơ, đem ra chém đầu. Nhưng đó chỉ là cái cớ. Cái chính là Tào Tháo biết Dương Tu là tướng có tài, chuyện gì cũng đoán biết được trước nên phải tìm cách hạ sát để trừ hậu họa. Tào Tháo còn là người đa mưu, nhưng vẫn rất sợ quân lính làm phản và bọn thích khách ám hại. Để đề phòng mọi bất trắc có thể xảy ra , ông ra lệnh : Đêm ta ngủ thường mơ nơi trận mạc, tung hoành đao kiếm, đừng ai đến gần mà thiệt mạng. Một hôm, đang ngủ say, bỗng Tào Tháo trở mình, chăn rơi xuống đất . Tên lính hầu canh cửa thấy vậy bèn rón rén đến bên giường nhặt chăn lên đắp lại cho chủ tướng. Tào Tháo vùng phắt dậy rút ngay gươm đã thủ sẵn ở đầu giường chém người lính rồi lại nằm ngủ tiếp. Hành động chém giết tàn bạo của ông không chỉ là lời răn đe khắc nghiệt đối với quân lính mà còn bộc lộ bản chất hay ngờ vực, hay nghi kị đến mức điển hình của một tính cách. Từ đó, tính cách của Tào Tháo đã được khái quát gọntrong năm chữ: Đa nghi như Tào Tháo.

  9. #3
    Tham gia
    Feb 2009
    Nơi ở
    Nam Định
    Bài viết
    1.914
    Like
    40
    Được 21 Like trong 14 bài viết

    Mặc định

    Về con người Tào Tháo

    ...Các nhà chính trị cổ, muốn lấy lòng dân chúng, thường nói ngược lại những điều họ nghĩ. Vì vậy, nếu người khác ở địa vị của Tào Tháo, tất sẽ nói ngược lại: “Ta thà để thiên hạ phụ ta, ta quyết không phụ thiên hạ”. Nhưng Tào Tháo không làm thế.


    "Ta thà phụ thiên hạ chứ không để thiên hạ phụ ta"



    Mao Tôn Cương bình luận: “Đây là chỗ hơn người của Tào Tháo, vì ông ta bụng nghĩ thế nào thì nói ra thế ấy, không như bọn tiểu nhân nghĩ một đằng nói một nẻo” . Trên thực tế, thiên hạ đều xử sự làm ra vẻ chính nhân quân tử, chỉ Tào Tháo dám nghĩ sao nói vậy, dù có dối trá nhưng dám công khai nói ra điều dối trá đó. Từ điểm này mà xét, Tào Tháo chí ít không thuộc hạng “ngụy quân tử” nhan nhản trong xã hội.


    Mao Tôn Cương nói Tào Tháo hơn người là ở điểm này. Cha con Mao Tôn Cương vốn không ưa Tào Tháo, mà phải nói như vậy cũng đáng để ta suy ngẫm.



    Bùi Tùng Chi dẫn Tào Man truyện trong Tam quốc chí – Vũ Đế kỷ như sau: Năm 220, Tào Tháo quyết chiến với Viên Thiệu ở Quan Độ. Đang trong tình trạng hết sạch lương thực thì gặp Hứa Du. Vừa ngồi yên chỗ, Hứa Du hỏi Tào Tháo còn bao nhiêu lương thực?


    Không kịp chuẩn bị, Tào Tháo thuận miệng trả lời: Chí ít cầm cự được một năm. Hứa Du nói thẳng : Không đúng. Nói lại đi. Tào Tháo nói: Còn được nửa năm. Hứa Du cười nhạt: Ông không định đánh bại Viên Thiệu hay sao? Nói thật đi xem nào!


    Tào Tháo là con người thông minh, biết Hứa Du nếu không nắm được thực trạng quân lương của mình, thì cũng biết tỏng tâm trạng mình, nếu không nói thật đừng hòng được ông ta giúp. Bèn vừa cười vừa nói: Vừa nãy ta nói đùa, chính xác là còn một tháng. Hứa Du thấy Tào Tháo nói thật, bèn phân tích chiến cục và bày cho Tào Tháo đốt kho lương của Viên Thiệu ở Ô Sào. Chỉ một trận ấy, Viên Thiệu xẹp hẳn, không bao giờ ngóc đầu nổi.


    Đến Tam quốc diễn nghĩa , La Quán Trung có ý nhấn mạnh tính chất gian manh của Tào Tháo, bèn thêm một số chi tiết hư cấu : Tào Tháo nói nửa năm, Hứa Du không tin; Nói ba tháng, Hứa Du vẫn không tin; Nói một tháng, Hứa Du bèn giũ áo đứng dậy đi ra khỏi trướng. Đến khi Hứa Du nói huỵch toẹt Tào Tháo đã hết lương, Tào Tháo mới chịu thú nhận. Như trên đã nói, tiểu thuyết có thể hư cấu, nhưng hư cấu đến mức biến Tào Thào thành kẻ trí trá đến cùng, thì không đúng với tính cách Tào Tháo.




    Về văn học thì Tào Tháo sáng tác rất nhiều thơ . Cùng với hai con là Tào Thực và Tào Phi tạo thành Tam Tào, ba nhà thơ xuất sắc nhất thời Tam Quốc.



    Đoản ca hành kỳ 1 (bài này có được nhắc tới trong Tam Quốc, đoạn trong trận Xích Bích)






    Đối tửu đương ca,
    Nhân sinh kỷ hà:
    Thí như triêu lộ,
    Khứ nhật khổ đa.
    Khái đương dĩ khảng,
    Ưu tư nạn vong.
    Hà dĩ giải ưu:
    Duy hữu Đỗ Khang.
    Thanh thanh tử câm,
    Du du ngã tâm.
    Đãn vi quân cố,
    Trầm ngâm chí kim.
    U u lộc minh,
    Thực dã chi tần.
    Ngã hữu gia tân,
    Cổ sắt xuy sinh.
    Hạo hạo như nguyệt,
    Hà thời khả chuyết ?
    Ưu thung trung lai,
    Bất khả đoạn tuyệt.
    Việt mạch độ thiên,
    Uổng dụng tương tồn.
    Khế khoát đàm yến,
    Tâm niệm cựu ân.
    Nguyệt minh tinh hy,
    Ô thước nam phi,
    Nhiễu thụ tam tạp,
    Vô chi khả y.
    Sơn bất yếm cao,
    Thuỷ bất yếm thâm.
    Chu Công thổ bộ,
    Thiên hạ quy tâm.




    Trước ly rượu ta nên ca hát
    Một đời người thấm thoát là bao ?
    Khác chi mấy hạt sương mai,
    Ngày qua sầu tủi hỏi ai không buồn ?
    Vụt đứng dậy, lòng thêm khảng khái
    Nhưng cái buồn đeo mãi không tha
    Giải sầu chỉ một chăng là
    Mượn đôi ba chén cửa nhà Đỗ Khang
    Tuổi đi học, áo xanh cổ cứng
    Mà lòng ta bịn rịn hôm mai
    Nhưng thôi nhắc mãi làm chi
    Tuổi xanh quá vãng vì mi ta buồn
    Con hươu lạc kêu trên đồng vắng
    Chân ngẩn ngơ mồn gặm cỏ non
    Nhà ta khách quý rộn ràng
    Đàn ca sáo phách bập bùng thâu đêm
    Mảnh trăng nọ treo trên trời rộng
    Biết bao giờ hết sáng ngàn cây ?
    Nỗi buồn ập đến ai hay
    Lòng ta vương vấn khi đầy khi vơi
    Xông pha mãi một đời gió bụi
    Uổng công ta lui tới đeo đai
    Bi hoan ly hợp một đời
    Mong người tri kỷ đứng ngồi chẳng an
    Trăng vằng vặc sao ngàn thưa thớt
    Quạ về nam thảng thốt kêu thương
    Liệng quanh cây những mấy vòng
    Mà không tìm được một cành nương thân
    Chẳng quản ngại ta tìm tri kỷ
    Dù núi cao, biển cả sâu nông
    Một đời nghiền ngẫm Chu công
    Làm sao thiên hạ dốc lòng về ta.



    .........




    Năm 220, Tào Tháo mất, thọ 66 tuổi. Người con cả kế vị là Tào Phi ép vua Hán Hiến Đế nhường ngôi, lập ra nhà Nguỵ, đóng đô ở Lạc Dương. Đó là vua Nguỵ Văn đế. Tào Tháo được truy tôn là Nguỵ Vũ Đế.

    Nhưng chỉ hơn 20 năm sau, một thuộc hạ khác của Tào Tháo là Tư Mã Ý cũng đã dùng lại thủ đoạn của Tào Tháo để khống chế triều đình Ngụy tạo nên cơ sở để lập nên nhà Tấn. Bản thân Tào Tháo trước kia từng tiên đoán Tư Mã Ý cũng là một kẻ gian hùng nhưng không có lý do chính đáng để buộc tội ông ta ...

  10. #4
    Tham gia
    Apr 2011
    Bài viết
    191
    Like
    0
    Được 0 Like trong 0 bài viết

    Mặc định

    Mình tìm bài này lâu rồi


 
+ Trả Lời Ðề Tài

Người dùng tìm kiếm trang này bằng các từ khóa:

Nobody landed on this page from a search engine, yet!