Tào tháo (155–220)
Trường Giang cuồn cuộn chảy về Đông
Bạc đầu ngọn sóng cuốn anh hùng
Thi phi thành bại theo dòng nước
Sừng sững cơ đồ bỗng tay không
Núi xanh nguyên vẻ cũ
Bao độ ánh chiều hồng
Một vò rượu nếp vui gặp gỡ
Chuyện đời tan trong chén rượu nồng
...
Đã mờ rồi ánh kiếm, ánh đao
Lùi xa rồi tiếng loa, tiếng trống
Vẫn rõ ràng sống động
Bao gương mặt anh hùng
Con đường xưa ngập trong cát bụi
Thành quách xưa hóa thành hoang tàn
Năm tháng oai hùng thành lịch sử
Bao chiến công, tên tuổi còn vang
Mộng bá vương ai người quyết định
Lẽ thịnh suy há chẳng có nguyên nhân
Sự đời vần vũ như mây gió
Đổi thời gian, đổi cả không gian
Tụ tán nhờ có duyên
Ly hợp vốn do tình
Trả món nợ non sông trước mắt
Mặc đời sau thiên hạ luận bình
Nước Trường Giang hóa thành sông lệ
Gió Trường Giang vang mãi bài ca
Giữa bầu trời lịch sử.
Muôn triệu ánh sao sa
Trong dân gian vạn thưở
Ấy muôn triệu đóa hoa
.....
Tào Tháo (tự là Mạnh Đức; 155–220)
Sinh năm: 155 S.CN. Mất: 15-3-220 S.CN, thọ 65 tuổi.
Quê quán: Tiêu Quận nước Bái (tức Bạc Châu, An Huy, Trung Quốc)
Quan chức: Thừa tướng nhà Hán,tước Ngụy vương.
Miếu hiệu: Thái Tổ Võ Hoàng Đế nhà Nguỵ
Tiểu sử
Tào Tháo nguyên gốc là họ Hạ Hầu. Cha ông là Hạ Hầu Tung, do làm con nuôi của một vị hoạn quan là Tào Đằng, nên đổi họ lại thành Tào Tung.
Năm 20 tuổi, ông thi đỗ Hiếu Liêm, làm quan cai trị kinh thành Lạc Dương, đã nổi tiếng là người nghiêm túc. Chú của đại thần Kiển Thạc phạm tội vác dao đi đêm, ông sai bắt vào phủ đánh roi thẳng thừng không vì nể.
Sự nghiệp
Năm 184, cuộc khởi nghĩa Hoàng Cân do Trương Giác lãnh đạo bùng nổ. Tào Tháo cùng các quân phiệt địa phương cùng các tướng trong triều đình đàn áp thành công, nên được phong làm quan trong triều.
Khi Thứ sử Tây Lương là Đổng Trác không chế triều đình, tự xưng là Thái sư, Tào Tháo chủ trương hành thích Đổng Trác. Do việc không thành nên Tào Tháo đã bỏ trốn và tham gia vào nhóm quân chư hầu do Viên Thiệu cầm đầu đánh Đổng Trác.
Năm 191 ,qua sự việc tranh giành quyền lực, thanh toán lẫn nhau giữa tướng quân Hà Tiến và mười hoạn quan trong cung đã tạo ra mầm mống cho các cuộc bạo loạn sau này, đã có một số thảo luận bí mật trong liên minh về việc đưa ai lên nối ngôi nhưng các thành viên của liên minh dần dà bị tiêu diệt hoặc phải bỏ chạy. Chiến tranh thực sự diễn ra khi Đổng Trác rời bỏ Lạc Dương .
Tháng 8 năm 195 vua Hiến Đế phải rời Trường An bắt đầu một chuyến du hành đầy nguy hiểm về phương đông để tìm những người ủng hộ.
Năm 196, khi ông gặp Tào Tháo ở Hứa Đô, phần lớn các đối thủ tranh giành quyền lực cỡ nhỏ đã bị thu phục hay tiêu diệt bởi các thế lực lớn hơn. Đế chế nhà Hán đã bị chia sẻ giữa một số lãnh chúa lớn trong các khu vực. Viên Thiệu chiếm phần trung tâm phía bắc bao gồm Thanh Châu, Tinh Châu, Ký Châu và U châu (khu vực tỉnh Hà Bắc và phụ cận hiện nay), mở rộng quyền lực lên phía bắc sông Hoàng Hà chống lại Công Tôn Toản, là người chiếm giữ khu vực biên giới phía bắc. Tào Tháo, ở phía nam của họ Viên, bị lôi cuốn vào cuộc chiến với Viên Thuật là người chiếm giữ vùng lưu vực sông Hoài (Hoài Nam) và Lưu Biểu ở miền trung sông Dương Tử (Kinh Châu). Xa hơn về phía nam là viên tướng trẻ Tôn Sách (con Tôn Kiên) thiết lập quyền lực tại khu vực hạ lưu sông Dương Tử (Giang Đông). Về phía tây, Lưu Chương chiếm Ích Châu trong khi đó Hán Trung và khu vực tây bắc bị chiếm giữ bởi một số các lãnh chúa nhỏ như Trương Lỗ, Trương Tú, Hàn Toại, Mã Đằng.
Tào Tháo, sau này là người sáng lập nhà nhà Ngụy, đã nổi binh mùa đông năm 189. Ông đã thu được khoảng 300.000 quân Khăn Vàng cũng như một loạt các nhóm quân sự có nguồn gốc bộ tộc vào quân đội của mình. Năm 196 ông ta thiết lập kinh đô cho nhà Hán ở Hứa Xương (Hứa Đô) và phát triển nông nghiệp trên cơ sở sử dụng sức lính để tăng thêm lương thảo cho quân đội. Sau khi tiêu diệt Viên Thuật năm 197 và các lãnh chúa miền đông như giết Lã Bố (198) và làm suy yếu Lưu Bị (199-200) ở Từ Châu trong một sự kế tiếp nhanh chóng, Tào Tháo nhằm sự chú ý của ông ta vào phía bắc tới Viên Thiệu, người trong cùng năm đó đã tiêu diệt kẻ thù phía bắc của mình là Công Tôn Toản.
Sau nhiều tháng lập kế hoạch, hai bên đã giao tranh tại Quan Độ vào năm 200 . Trong trận chiến Quan Độ, bằng sự khôn ngoan mưu lược, Tào Tháo đã lật ngược tình thế , vượt qua đội quân đông đảo hơn của họ Viên (hơn 300.000 người so với 200.000 quân của Tào Tháo), Tào Tháo đã đánh bại ông ta và làm tan rã quân miền bắc. Năm 202, giành hoàn toàn thế chủ động sau cái chết của Viên Thiệu và sự chia rẽ của ba con trai , Tào Tháo tiến lên phía bắc sông Hoàng Hà. Với chiến thắng Quan Độ , Tào Tháo chẳng những thừa hưởng được một số binh lực hùng hậu của Viên Thiệu mà còn tạo được thế lực thống nhất Hoa Bắc
Ông chiếm Nghiệp thành năm 204 và xâm chiếm các tỉnh Ký Châu, Tinh Châu, Thanh Châu và U Châu. Cuối năm 207, sau những chiến dịch nhỏ chống lại người Ô Hoàn , Tào Tháo đã giành được sự thống lĩnh không thể tranh cãi đối với miền đồng bằng Hoa Bắc gồm các tỉnh như Liêu Ninh, Sơn Tây, Nội Mông và Bắc Kinh ngày nay.
Sau khi liên minh với Viên Thiệu bị tan vỡ, Lưu Bị phải chạy về Kinh Châu nương náu dưới trướng Lưu Biểu.
.......
Sau này do chủ quan khinh địch và thiếu kinh nghiệm chiến đấu đường thủy, nên trong trận chiến Xích Bích đội quân Tào Tháo bị thất bại trước liên quân của 2 quân phiệt khác là Lưu Bị và Tôn Quyền, đổ vỡ kế hoạch thống nhất Trung Quốc. Từ đó, Tào Tháo quyết định tập trung xây dựng nền tảng chính trị ở phía Bắc và chờ đợi thời cơ.
Với chiêu bài "Mượn tiếng thiên tử để ra lệnh cho chư hầu", Tào Tháo đưa Hán Hiến đế để làm bình phong thực hiện các quyết định chính trị, quân sự. Táo Tháo đã lập đô ở Hứa Xương, khống chế triều đình, tự xưng Thừa tướng (năm 208), thăng dần đến tước Ngụy công rồi Nguỵ vương.
Sau trận Xích Bích, về cơ bản thế đứng của ba họ Tào, Tôn và Lưu khá vững, lực lượng khá cân bằng nên Tào Tháo không còn thời cơ nam tiến thuận lợi để thống nhất Trung Hoa nữa. Thế chân vạc hình thành.
Chân dung một chính trị gia
Theo mô tả của một số tài liệu, Tào Tháo tuy có hình dáng thấp nhỏ nhưng từ nhỏ thông minh hơn người, lại mang chí lớn. Hứa Thiệu - một người giỏi tướng số nhận định Tào Tháo: "Thời trị, ông là bầy tôi giỏi; Thời loạn, ông là kẻ gian hùng".
Quan niệm của Tào Tháo
Đó là "Thà giết lầm còn hơn tha lầm" "Ta thà phụ thiên hạ chứ không để thiên hạ phụ ta" (hoàn toàn trái ngược với chủ trương của Lưu Bị "thà chết chứ không làm điều bất nghĩa"), chính vì vậy Tào Tháo luôn e dè và xem Lưu Bị là kẻ thù nguy hiểm nhất của mình. Với quan niệm này ông đã nhẫn tâm giết nhầm gia đình Lã Bá Xa khi đang trong tình trạng trốn chạy sự truy bắt của Đổng Trác vì nghĩ họ mài dao để giết mình nhưng thực ra họ định mổ heo để đãi đằng ông như một vị khách
Dùng tóc thay thủ cấp
Do phải hành quân qua một ruộng lúa nên Tào Tháo căn dặn không ai được làm tổn hại dù chỉ là một nhành lúa trên cánh đồng. Nhưng con ngựa của Tào Tháo sau đó lại bị bầy chim đang ăn trên ruộng lúa chợt bay vút lên khiến nó hoảng sợ giẫm đạt nát một góc ruộng, Tào Tháo rút gươm kề cổ mình trong tư thế chuẩn bị tự sát thì quan quân xúm lại can ngăn, ông bèn cắt chỏm tóc trên đầu và nói "ta tạm tha tội cho mình, nhưng dùng tóc để thay đầu". Đây cũng là một trong những kỹ xảo chính trị của Tào Tháo.
Mượn thủ cấp để mua lòng quân
Đây là một việc làm bá đạo, trong một lần đánh chiếm thành trì, do không đủ lương thực nên ông đã sai người cấp phát lương thực làm cái đấu đong gạo nhỏ lại để đong ít số gạo kéo dài thời gian, sau đó ông đổ tội cho viên quan trông coi việc cấp phát rồi bêu đầu để trấn an lòng quân. Vì việc làm trên Tào Tháo đã trả công cho sự hy sinh oan uổng của viên quan này đó bằng cách nhận phụng dưỡng suốt đời gia đình của anh ta.
Không nhắc lỗi lầm của thủ hạ
Trong trận Quan Độ, Tào Tháo phá tan đại quân Viên Thiệu. Thiệu thu tàn quân bỏ chạy qua sông Hoàng Hà, trong lúc vội vã hoảng sợ, công văn giấy tờ bỏ lại hết. Tào Tháo kéo tới, bắt được đống công văn đó. Nghe báo cáo của cấp dưới, ông biết trong đống công văn có nhiều thư từ của những người cấp dưới mình từng tư thông với Viên Thiệu. Các thuộc hạ của ông đề nghị nên đối chiếu tên từng người để về Hứa Xương sẽ bắt trị tội. Nhưng Tào Tháo xua tay, ra lệnh hãy đốt cả đi. Mọi người ngạc nhiên hỏi vì sao, ông bảo:
Khi Viên Thiệu mạnh, ta yếu, ngay cả ta lo giữ mình còn không xong, huống chi là người khác?
Sự độ lượng của Tào Tháo khiến những người cấp dưới vô cùng khâm phục, những người từng manh tâm phản ông cũng hết sức cảm kích. Về điểm này, nhiều chính trị gia đương thời và sau ông chưa thể so sánh được.
Chiến thắng Viên Thiệu, lấy ít chọi nhiều
Một trong những ưu điểm của Tào Tháo là biết nhìn người và rất biết cách dùng người. Theo nhận xét từ Tuân Húc, một mưu sĩ của Tào Tháo:
"Chủ công có tính quyết đoán, có kế hay là dùng ngay, Viên Thiệu thích mưu kế nhưng lại hay do dự"
Vì vậy ông tận dụng tối đa những lợi thế và các tướng tài mà mình sẵn có, cộng thêm lợi dụng thời cơ bởi sự lưỡng lự của Viên Thiệu rồi lần lượt đánh chiếm các thành trì quan trọng ở miền Bắc bao gồm cả Duyện Châu. Cuối cùng với số quân khá ít ỏi so với Viên Thiệu, Tào Tháo chiếm được thời cơ để đẩy Viên Thiệu vào tình trạng bế tắc trên đường tháo chạy lâm trọng bệnh qua đời. Do đó, con số 83 vạn quân Tào hùng hậu ở trận Xích Bích hầu hết do Tào Tháo thừa hưởng từ đội quân của Viên Thiệu mà ra.
Chọn điểm dừng thích hợp
Năm 215, Tào Tháo gần như lùi hẳn về Bắc củng cố thế lực rồi dâng biểu ép vua phải phong mình là Ngụy Vương để có đủ uy quyền mà trấn áp quân Đông Ngô. Có tướng hỏi sao ông "không lập quốc và xưng đế"? Tào Tháo chỉ nói : "Cô đã trải qua bao năm chiến chinh hy vọng giữ vững giang sơn bờ cõi nhà Hán. Nay được làm đến chức Ngụy Vương Cô đã mãn nguyện lắm rồi, nếu có thì Cô chỉ mong được như Chu Văn Vương ngày xưa thôi chứ nào ham gì chức vị đế vương?".
Tuy nhiên khi Tào Tháo qua đời vào năm 220 thì người con kế vị là Tào Phi đã bức vua Hán Hiến Đế nhường ngôi, xưng đế và lần lượt hai vương quốc còn lại là Thục và Ngô cũng chính thức tuyên bố lập quốc. Việc Tào Tháo so mình với Tây Bá Hầu Cơ Xương đời nhà Chu chẳng qua ông không muốn mang tiếng soán ngôi nhà Hán, nhưng đã sắp đặt cho con cháu mình sẽ là người kế tục sự nghiệp đế vương sau này.
Trong toàn bộ sự nghiệp của mình, Tào Tháo rất biết sử dụng và trọng dụng nhân tài và sự rộng rãi hào phóng sẵn có nên rất nhiều nhân tài theo ông, về sau có khá nhiều nhân tài tại nước Ngụy được xét vào hàng đầu trong thời Tam Quốc.
Thời loạn
Tào Tháo đã đi một nước cờ rất hoàn mỹ, đó là dùng chức thừa tướng nhà Hán của mình để khống chế thiên tử, dùng thiên tử để ra lệnh cho chư hầu. Tuy Tào Tháo ít nhiều cũng có công trong lịch sử Trung Hoa nhưng con đường sự nghiệp của ông lại đầy ắp những mưu mô và thủ đoạn, tuy hậu đãi tướng lĩnh và quan quân dưới quyền mình nhưng Tào Tháo rất nặng tay với những tổ chức có ý định chống đối hoặc những ai mưu phản lại mình.
Tào Tháo được coi là một nhân vật giỏi nhất thời Tam Quốc bấy giờ. Chính ông đã tạo ra cơ sở thành lập nên ba vương triều trong lịch sử Trung Hoa (cuối đời nhà Tấn, Trung Quốc cũng bị chia làm hai). Dưới sự lãnh đạo của Tào Tháo, chính quyền nhà Ngụy lúc ấy mạnh nhất, hơn Tây Thục và Đông Ngô. Nếu như trước kia Tào Tháo trừ được Lưu Bị khi còn đang trong cung và tiên liệu trước sự việc con cháu của Tôn Kiên sẽ thay cha lập quốc thì có lẽ Tào Tháo đã sớm chiếm trọn vẹn lãnh thổ Trung Hoa rộng lớn rồi. Do vậy sau thất bại ở Xích Bích, ông thấy thực lực của Lưu - Tôn khá mạnh nên đã lùi về Bắc củng cố lực lượng, phát triển kinh tế chờ thời cơ thích hợp.
Một điều đáng tiếc là sự liên minh giữa Thục và Ngô lại nhanh chóng tan vỡ vì Gia Cát Lượng do chủ quan cho Quan Vũ trấn giữ ở Kinh Châu nên Quan Vũ đã bị Đông Ngô giết, Kinh Châu bị chiếm mất. Lưu Bị do nôn nóng báo thù kéo quân vây đánh Đông Ngô mà bỏ ngoài tai những lời can gián của Gia Cát Lượng. Lúc ấy Tào Tháo có thể thừa dịp mà thu thiên hạ về mình nhưng ông đã qua đời trước đó gần một năm vì chứng đau đầu (220). Con cháu kế vị Tào Phi như Tào Phương, Tào Mao bất tài, nên bị con cháu họ Tư Mã lật đổ không lâu sau đó.
Nói tới Tào Tháo, người đọc Tam Quốc diễn nghĩa hẳn nhớ hình ảnh của ông như một kẻ tài giỏi nhưng gian trá, đa nghi . Nhưng nhìn nhận một cách khách quan thì Tào Tháo là nhân vật tài giỏi nhất thời Tam Quốc, văn võ toàn tài, trị dân giỏi. Nếu so sánh với các vị vua sáng nghiệp khác của Trung Quốc thì Hán Cao Tổ cũng trí trá nhưng kiểu bịp bợm và lưu manh, Tống Thái Tổ thì mờ nhạt, may nhờ thời vận, Minh Thái Tổ thì cũng không khác với Hán Cao Tổ là mấy . Xem ra chỉ còn có Đường Thái Tông, có lẽ là vị vua tài giỏi nhất trong toàn bộ lịch sử 5000 năm của Trung Quốc, là có thể so sánh được với Tào Tháo (tất nhiên công nghiệp của Đường Thái Tông vượt xa Tào Tháo, nhưng đó là chuyện khác).
Về võ nghiệp thì Tào Tháo không những thống nhất phương Bắc mà còn đánh tan người Khương, người Hung Nô, và dùng chính sác ngoại giao mềm dẻo để ổn định biên giới. Nhưng cũng có người cho rằng chính vì họ Tào không cương quyết trong cuộc tranh đấu với các tộc Hồ thành ra di họa sau này, tới thời Tây Tấn, mới xảy ra hiện tượng Ngũ Hồ loạn Hoa.
Đa nghi như Tào Tháo
Chuyện rằng có một lần Tào Tháo đem quân đi chinh phạt nhà Thục. Quân Thục chống trả quyết liệt và cố thủ vững chắc. Cuộc chiến kéo dài, quân Tào mệt mỏi, tiến thoái lưỡng nan. Thấy tình thế khó nuốt được Thục, Tào bèn ban mật khẩu “Kê cân”. Một tướng giỏi của Tào là Dương Tu nghe lỏm được, liền truyền lệnh cho quân sĩ thu xếp hành trang, chuẩn bị rút. Thấy lạ, quân tả hữu liền hỏi:
Tại sao tướng quân lại cho quân rút sớm vậy?
Dương Tu đáp:
Quan Thừa tướng đã ban mật khẩu “Kê cân” (nghĩa là gan gà) ý muốn nói ăn không được, vứt thì tiếc. Vậy việc rút quân chỉ nay mai thôi.
Biết chuyện này, Tào Tháo khép tội Dương Tu là tiết lộ việc quân cơ, đem ra chém đầu. Nhưng đó chỉ là cái cớ. Cái chính là Tào Tháo biết Dương Tu là tướng có tài, chuyện gì cũng đoán biết được trước nên phải tìm cách hạ sát để trừ hậu họa. Tào Tháo còn là người đa mưu, nhưng vẫn rất sợ quân lính làm phản và bọn thích khách ám hại. Để đề phòng mọi bất trắc có thể xảy ra , ông ra lệnh : Đêm ta ngủ thường mơ nơi trận mạc, tung hoành đao kiếm, đừng ai đến gần mà thiệt mạng. Một hôm, đang ngủ say, bỗng Tào Tháo trở mình, chăn rơi xuống đất . Tên lính hầu canh cửa thấy vậy bèn rón rén đến bên giường nhặt chăn lên đắp lại cho chủ tướng. Tào Tháo vùng phắt dậy rút ngay gươm đã thủ sẵn ở đầu giường chém người lính rồi lại nằm ngủ tiếp. Hành động chém giết tàn bạo của ông không chỉ là lời răn đe khắc nghiệt đối với quân lính mà còn bộc lộ bản chất hay ngờ vực, hay nghi kị đến mức điển hình của một tính cách. Từ đó, tính cách của Tào Tháo đã được khái quát gọntrong năm chữ: Đa nghi như Tào Tháo.








Trả Lời Với Trích Dẫn